Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 1. Những khái niệm công cụ 1. Việc làm Có rất nhiều định nghĩa về việc làm đứng trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như điều kiện kinh tế, chính trị, pháp luật… mà người ta cũng có những quan niệm về việc làm khác nhau.
Chính vì vậy mà chưa có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật [37, tr. Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động ILO. Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc.
ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có 1 số công ước quan trọng như công ước số 47 (1935), Công ước số 88 (1948), Công ước 122 (1964)… Còn theo quan niệm của Việt Nam, đã từ lâu kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng với đó là quan niệm về việc làm và những vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách giải quyết việc làm cũng có sự thay đổi cơ bản Điều 55 Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ”. Quan niệm này đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm. Trên cơ sở này, Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” ( Điều 13 Bộ luật lao động).
19 z Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: - Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định. - Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu nhập.
- Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm. Tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm. Dưới góc độ kinh tế xã hội, hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của loài người nói chung và con người nói riêng.
Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm. Việc làm trước hết là nhu cầu của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định. Họ có thể tham gia hoạt động nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự sản tự tiêu như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự tạo ra những sản phẩm cho hộ gia đình mình. Ngoài nhu cầu cá nhân, việc làm còn là nhu cầu của cộng đồng của xã hội.
Sở dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng của xã hội. Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân NLĐ cũng quyết định được. Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khả năng tự tạo việc làm. Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm.
20 z Tóm lại, xét về phương diện kinh tế- xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận. Như vậy, việc làm có hai đặc tính cơ bản: Một là, xét dưới khía cạnh kinh tế, việc làm chính đáng là hoạt động của con người tạo ra thu nhập; hoặc tạo ra những sản phẩm có lợi ích cho con người và xã hội Hai là, dưới khía cạnh pháp lý của mỗi quốc gia, hoạt động tạo ra thu nhập đó chỉ được coi là việc làm khi hoạt động đó không bị pháp luật quốc gia đó cấm. Trên thực tế, có nhiều hoạt động tạo ra thu nhập nhưng bị pháp luật ngăn cấm thì không được thừa nhận là việc làm; mặt khác có những hoạt động không bị pháp luật cấm, không tạo ra thu nhập cũng có thể coi là việc làm nếu tạo ra những sản phẩm tự sản, tự tiêu có ích lợi với cá nhân và xã hội 1. Thất nghiệp Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học bàn luận.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị mà cũng còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề thất nghiệp. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, luật Bảo hiểm thất nghiệp quy định rằng thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn [34, tr. Ở Pháp người ta cho rằng, thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm [37, tr. Thái Lan định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp được hiểu là không có việc làm, muốn có việc làm, có năng lực làm việc [38, tr.
Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm [36, tr. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”. Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Geneva đưa ra định nghĩa: “Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây:[33, tr26]: 21 z Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sử dụng lao động chẳng hạn) hoặc đã thôi việc. Người lao động không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới và một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định.
Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương Có thể thấy, các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng: Có khả năng lao động Đang không có việc làm Đang đi tìm việc làm Tại Việt Nam thất nghiệp được hiểu là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm[40]. Luật 71/2006/QH11 của Quốc hội: Luật Bảo hiểm xã hội quy định rằng người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm [41]. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội Số người có việc làm Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x Tổng số lao động xã hội 1. Sinh viên tốt nghiệp Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp.
Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. 22 z Như vậy, sinh viên là những người trẻ, học tập trong môi trường đại học, cao đẳng, là những môi trường tri thức cao, họ được tiếp cận những tri thức tân tiến nhất của nhân loại, là những chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì vây, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Phải làm cho sinh viên, học sinh nắm được những kiến thức hiện đại nhất”[46] Sinh viên tốt nghiệp là những sinh viên đã hoàn thành toàn bộ chương trình học tại trường Cao đẳng hoặc Đại học, được công nhận và cấp bằng tốt nghiệp.
Những người này còn có một cách gọi khác là Cựu sinh viên. Như vậy, với các định nghĩa trên, ta có thể khái quát Việc làm của SVTN chuyên ngành Công tác xã hội là hoạt động tạo ra giá trị vật chất và phi vật chất của những người đã hoàn thành chương trình học tập bậc đại học về chuyên ngành Công tác xã hội tại các cơ sở đào tạo. Hoạt động tạo ra giá trị có thể được đo bằng thu nhập, mức độ ổn định công việc,… 1. Nghề nghiệp Nghề hay nghiệp, Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như ý chủ biên, Nxb Văn hoá thông tin – 1998) định nghĩa: “Nghề: Công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”; còn “Nghề nghiệp là nghề nói chung”.