CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vài nét về bệnh sốt rét 1. Định nghĩa sốt rét Sốt rét là một bệnh lan truyền qua đường máu gây nên bởi ký sinh trùng Plasmodium do muỗi cái của loài Anopheles đốt qua da và truyền các thoa trùng SR vào máu. Đặc điểm chung về bệnh sốt rét Bệnh SR lưu hành chủ yếu ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới.
KSTSR có thể gây nên bệnh SR cho con người ở tất cả các nhóm tuổi và được truyền từ người này sang người khác qua trung gian truyền bệnh là muỗi Anopheles (An). Bệnh SR tồn tại và lan truyền được phải có hội tụ của 3 yếu tố: mầm bệnh (ký sinh trùng); trung gian truyền bệnh (muỗi sốt rét); khối cảm thụ (con người). Sự lan truyền bệnh SR khác nhau về cường độ và mức độ thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên tại chỗ như: lượng mưa, khu vực sinh sản của muỗi và sự có mặt của loài muỗi truyền bệnh. Ngoài ra yếu tố xã hội cũng là một trong những yếu tố có tác động quan trọng tới quá trình lan truyền bệnh.
Có những vùng bệnh SRLH quanh năm với số lượng BNSR được phát hiện tương đối ổn định các tháng trong năm. Trong khi đó, ở một số vùng bệnh nhân mắc SR theo mùa và thường vào mùa mưa. Tác nhân gây bệnh sốt rét Ký sinh trùng sốt rét gây bệnh cho người có tên khoa học là Plasmodium thuộc họ Plasmodidea, một dạng đơn bào ký sinh trong máu. Có hơn 120 loài thuộc họ Plasmodidea được phát hiện ở động vật bò sát, chim, động vật có vú như chuột và linh trưởng.
Người không nhiễm KSTSR của chim, động vật bò sát do có miễn dịch tự nhiên. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) hiện có 5 loại Plasmodium gây bệnh cho người đã được ghi nhận(WHO, 2012), nghiêm trọng nhất là P. falciparum, số còn lại là P. knowlesi có thể gây 3 bệnh nhẹ hơn và thường ít dẫn đến tử vong.
Ở Việt Nam có 2 loài chủ yếu: P. falciparum chiếm 70 – 80%, thường gây SR nặng, biến chứng và tử vong, tiếp đến là P. vivax chiếm 20 – 30%, gây sốt cách nhật, SR tái phát, P. ovale có tỷ lệ thấp, P.
knowlesi mới phát hiện (1995) [6], [7]. Tác nhân truyền bệnh sốt rét Bệnh SR lan truyền được từ người này sang người khác là nhờ trung gian truyền bệnh, đó là muỗi Anopheles, có nhiều loại muỗi Anopheles nhưng chỉ có 60 loài có khả năng truyền bệnh SR ở các vùng SR trên thế giới. Việt Nam có 3 véc tơ chính: An. dirus và một số véc tơ phụ như: An.
Chu kỳ phát triển của ký sinh trùng sốt rét giai đoạn ở muỗi và giai đoạn ở người Hình 1. Chu kỳ của ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người và muỗi Nguồn. Bruce - Chwatt’s Essential Malariology. Chu kỳ phát triển của KSTSR qua 2 vật chủ là muỗi Anopheles và người.
Ký sinh trùng sinh sản hữu tính trong muỗi (muỗi là vật chủ chính) và sinh sản vô tính trong tế bào gan và hồng cầu người (người là vật chủ phụ). Chiến lược phòng chống bệnh sốt rét ở Việt Nam Chiến lược quốc gia phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030 theo quyết định số 1920/QĐ- TTg của Thủ tướng chính phủ. Mục tiêu chung: Khống chế tỷ lệ người dân mắc bệnh SR dưới 0,15/1.000; tỷ lệ người dân chết do bị bệnh SR dưới 0,02/100.000; không còn tỉnh nào trong giai đoạn phòng chống bệnh SR tích cực; 40 tỉnh trong giai đoạn đề phòng bệnh SR quay trở lại; 15 tỉnh trong giai đoạn loại trừ bệnh SR và 8 tỉnh trong giai đoạn tiền loại trừ bệnh SR vào năm 2020. Mục tiêu cụ thể: 1.
Bảo đảm người bị bệnh SR và người có nguy cơ mắc bệnh SR được tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời; 2. Bảo đảm thực hiện các biện pháp phòng chống bệnh SR hiệu quả, thích hợp cho người dân sống trong vùng có nguy cơ mắc bệnh SR; 3. Loại trừ bệnh SR tại các tỉnh có SRLH nhẹ, làm giảm mức mắc bệnh SR tại các tỉnh có bệnh SRLH nặng và vừa; 4. Nâng cao năng lực của hệ thống giám sát bệnh SR, bảo đảm đủ khả năng phòng, chống dịch bệnh SR; 5.
Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng kết quả của nghiên cứu khoa học vào hoạt động phòng, chống và loại trừ bệnh SR; 6. Nâng cao nhận thức của người dân về phòng chống bệnh SR để người dân chủ động phòng chống bệnh SR có hiệu quả cao nhất. Tình hình sốt rét trên thế giới Trước đây trên Thế giới thường xuyên xảy ra dịch sốt rét, một trong những vụ dịch lớn nhất đã xảy ra ở Liên Xô cũ sau đại chiến Thế giới thứ nhất (1923-1926) với hơn 10 triệu người mắc và ít nhất có 60.000 người chết. Năm 1976, hơn 7 triệu ca sốt rét được báo cáo ở Ấn Độ, 250.
Madagasca năm 1988 và một số nước Châu Phi (như Botswana, Burundi, Ethiopia, 5 Namibia, Rwanda, Sudan, Zaire….) đã phải đương đầu với tính chất trầm trọng của căn bệnh này trong nhiều thập kỷ [51]. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), năm 2015 có 97 quốc gia và vùng lãnh thổ có sốt rét lưu hành (SRLH), với dân số khoảng 3,2 tỉ người. Năm 2015 có 214 triệu người mắc, 438.000 người tử vong vì sốt rét, phần lớn là trẻ em ở Châu Phi: 292. Hàng năm, các nước Châu Á, Châu Mỹ có khoảng 5 - 6 triệu BNSR được báo cáo, nhưng thực tế còn cao gấp 4 lần.
Khoảng 75% số BNSR của khu vực này được ghi nhận ở 9 nước: Afganistan, Brazil, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Srilanca và Việt Nam. Sốt rét vẫn còn lưu hành ở các nước tiểu vùng sông Mê Kông: Trung Quốc (Vân Nam), Lào, Myanmar, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Bệnh sốt rét lưu hành trên thế giới với mức độ nặng nhẹ khác nhau phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, sinh học, các yếu tố về kinh tế, xã hội như nghèo đói, dân trí thấp, giao thông đi lại khó khăn, di biến động dân cư, phát triển các dự án kinh tế như thuỷ điện, trồng rừng. Nghiên cứu của Isabella Anne Rossi năm 2007 cho thấy 2.190 người từ vùng sốt rét lưu hành trở về Thụy Sỹ có 154 người nhiễm P.
falciparum , trong đó 79% là những người đi du lịch về, 9% là dân di cư, 97% số bệnh nhân từng đến vùng sốt rét lưu hành nặng tại khu vực Cận Sahara, Châu Phi [43]. Người mắc sốt rét di chuyển đến những vùng không có sốt rét lưu hành thường không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Zino và cộng sự năm 2003 nghiên cứu tại Italy phát hiện 17 bệnh nhân sốt rét người Trung Quốc di cư bất hợp pháp, các bệnh nhân này trước khi di cư vào Italy đều có thời gian sống tại một số nước Châu Phi trong khoảng thời gian 14 ngày đến 9 tháng. Hầu hết các trường hợp trên bị nhiễm P.
falciparum, trong đó 1 trường hợp tử vong do chẩn đoán và điều trị không kịp thời. Tình hình sốt rét tại Việt Nam Trong kháng chiến chống Pháp, công tác PCSR gặp rất nhiều khó khăn, nhất là nhân dân vùng căn cứ địa và các lực lượng vũ trang. Một số tác giả đã nghiên cứu lách và KST của các lứa tuổi trên 160 điểm thuộc nhiều vùng sốt rét khác nhau. Nghiên cứu cơ cấu KST, thành phần, một phần sinh lý, sinh thái muỗi Anopheles ở các vùng khác nhau và sưu tầm các cây thuốc chữa sốt rét ở Việt Nam, di thực cây Quinquina vào Việt Nam, nghiên cứu thuốc PCSR (quinacrin, quinin).
Giai đoạn sau kháng chiến chống Pháp: Việt Nam tạm bị chia làm hai miền. Miền Bắc công tác điều tra sốt rét được thực hiện trên quy mô lớn do cán bộ sốt rét Việt Nam với sự cộng tác và giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Rumani. Thời kỳ 1958 -1975: Do đất nước bị chia cắt nên chương trình Tiêu diệt sốt rét được tiến hành riêng biệt ở hai miền Nam Bắc [44]: - Miền Bắc: 1958 -1961 chuẩn bị; 1961 -1964 tấn công; 1965 - 1975 cuối tấn công. Tỷ lệ nhiễm KSTSR 5/10.000 dân - Miền Nam: 1958 -1959 chuẩn bị; 1960 -1964 tấn công; 1965 - 1975 cuối tấn công.
Năm 1980 bệnh sốt rét gia tăng ở nhiều tỉnh vùng rừng núi và ven biển, có 1.138 người chết do sốt rét. Năm 1992, Hội nghị Amsterdam ra lời kêu gọi về chiến lược PCSR trên toàn thế giới. Từ 1992 - 1995 chương trình PCSR đã thực hiện tốt các mục tiêu giảm chết, giảm dịch, giảm mắc (tại Việt Nam từ 144 vụ dịch sốt rét năm 1992 đến 1995 có 2 vụ dịch sốt rét). Thời gian từ 1991 đến 2000 số BNSR giảm từ 1.
Năm 2004 cũng không có dịch sốt rét. Việt Nam nằm trong vùng SRLH nặng của thế giới, là một trong những nước có nguy cơ cao về BSR. Tuy nhiên, đến năm 2000 chỉ còn 1,4% dân số sống trong vùng SRLH. Kết quả phân vùng dịch tễ sốt rét năm 2014 toàn quốc có 204 xã thuộc vùng sốt rét lưu hành nặng, với 1,25% dân số sống trong vùng sốt rét lưu hành nặng [10], tập trung chủ yếu ở Miền Trung – Tây Nguyên và Nam Bộ.
7 Theo các nghiên cứu hiện nay Việt Nam có đầy đủ 4 loại KSTSR gây bệnh cho người [24] nhưng chủ yếu có 2 loại P. Sự phân bố thành phần loài KST có khác nhau tùy khu vực địa lý. falciparum chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc, Miền Trung - Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. vivax phân bố nhiều ở các khu vực duyên hải Miền Bắc, Miền Trung và Nam Bộ.
Tuy nhiên trong thời gian gần đây do có sự thay đổi về dịch tễ nên phân bố KSTSR có sự thay đổi. Một số nơi thuộc khu vực Miền Trung (Ninh Thuận, Quảng Nam) tỷ lệ P. vivax có chiều hướng trội hơn P. Nay đã phát hiện thêm nhiều ca mắc loài KST này.
Tỷ lệ mắc sốt rét do P. knowlesi tới 25,6% trong nghiên cứu tại Khánh Hòa giai đoạn 2009 - 2010 (32 ca P. knowlesi/125 ca dương tính - xác định bằng PCR) [49]. Việc chẩn đoán KST này gặp nhiều khó khăn do hình ảnh dễ nhầm với P.
Tình hình sốt rét tỉnh Bình Phước Theo kết quả phân vùng dịch tễ sốt rét năm 2014 có: 35 xã SRLH nặng, 23 xã SRLH vừa, 41 xã SRLH nhẹ và 12 xã nằm trong vùng SR quay trở lại. Gồm nhiều dân tộc sinh sống chủ yếu là người Kinh; người Mnông, người S’tiêng chiếm 17,9%; ngoài ra còn một số ít người Hoa, Khmer, Nùng và người Tày.