ĐẶT VẤN ĐỀ Dân số Việt Nam vào khoảng 93 triệu người. Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi) là trên 24,2 triệu người và dự báo sẽ đạt cực đại vào năm 2027 – 2028. Trung bình mỗi năm dân số Việt Nam tăng thêm khoảng gần 1 triệu người. Biện pháp tránh thai hiện đại giúp kiểm soát các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, góp phần điều chỉnh sự bùng nổ dân số, tiết kiệm các khoản chi cho các dịch vụ xã hội.
Theo kinh nghiệm của quốc tế, nếu chi 1 USD cho KHHGĐ thì sẽ tiết kiệm được 31 USD chi cho xã hội. Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại mới chỉ đạt 66,8% (năm 2016- theo số liệu của Tổng cục Dân số- KHHGĐ). Chủ yếu là bao cao su và vòng tránh thai. Nhằm đa dạng hoá hơn nữa các PTTT theo mục tiêu mới của chương trình DS-KHHGĐ đặc biệt là những biện pháp mới được giới thiệu và phải thực hiện tại các cơ sở y tế như: Dụng cụ tử cung, Tiêm tránh thai và que cấy tránh thai(1).
Điểm mạnh của các PTTT này đó là sử dụng một lần có thể ngừa thai được một thời gian dài vài tháng đến vài năm và có thể có thai trở lại sau khi ngừng sử dụng. Sử dụng PTTT tạm thời dài hạn người phụ nữ có quyền chủ động ngừa thai trong thời gian dài mà không cần quan tâm nhiều đến PTTT này. Đây cũng là nhóm biện pháp chi phí hiệu quả cao trong các can thiệp Y tế công cộng giảm tỉ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em cũng như giúp cải thiện bình đẳng giới (2). Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 60% (1,1 tỷ) trong 1,9 tỷ phụ nữ độ tuổi sinh sản sử dụng các PTTT với 3/4 sử dụng các PTTT hiện đại (2).
Tuy vậy, tỉ lệ được cung ứng đầy đủ PTTT còn thấp ở nhiều nước có thu nhập thấp và trung bình như các nước tại Trung và Tây Phi (3), (4). Tại Việt Nam, công tác KHHGĐ qua 60 năm (1961-2021) được đánh giá rất thành công khi tỉ lệ tăng dân số giảm mạnh xuống còn 1,44% vào năm 2019 (5) với tổng tỷ suất sinh (TFR) ổn định với mức sinh thay thế 2,09 con/phụ nữ (5). Tỉ lệ sử dụng PTTT đạt 76,5%, trong đó PTTT hiện đại chiếm 2/3 (6). Cơ cấu các PTTT cũng được đa dạng hoá với nhiều lựa chọn các PTTT hiện đại như dung cụ tử cung, thuốc tránh thai, bao cao su, v.
Việc tiếp thị xã hội các PTTT cũng thành công khi người dân đã quen mua khi 2 cần thay vì nhận miễn phí (8). Trong giai đoạn tới, đa dạng hóa PTTT vẫn là ưu tiên của chương trình KHHGĐ. Trong đó, các PTTT tránh thai tạm thời sử dụng dài hạn hiện có tỷ lệ sử dụng còn thấp trừ DCTC. Theo thống kê năm 2018, tỷ lệ sử dụng DCTC đạt 46,0%, thuốc tiêm tránh thai đạt 1,6% và que cấy tránh thai chỉ đạt 0,4% (5).
Yếu tố như: hiểu biết, thái độ, thực hành của người phụ nữ hay các yếu tố liên quan tới hoạt động chương trình Dân số - KHHGĐ, tác động của xã hội, những người xung quanh, các dịch vụ y tế, các hoạt động truyền thông tỉ lệ thất bại thấp là các yếu tố có liên quan tới sử dụng các PTTT tạm thời dài hạn (9, 10). Thị trấn Tràm Chim nằm ngay trung tâm của huyện, là một trong 12 xã của huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, là nơi tập trung dân cư đông đúc, trình độ dân trí, điều kiện kinh tế và là nơi thực hiện chương trình kế hoạch hóa gia đình khá tốt của huyện. Thị trấn có khoảng 10.850 dân với 1/5 là phụ nữ 18-49 tuổi có chồng (2134 người). Đa số phụ nữ sống bằng nghề buôn bán và nghề nông.
Trong năm 2019 có 79% các cặp vợ chồng áp dụng các PTTT hiện đại, trong số đó tỉ lệ sử dụng các PTTT tạm thời dài hạn như: thuốc tiêm tránh thai 14,1%, thuốc cấy tránh thai 0,86% và dụng cụ tử cung (DCTC) đạt 35% (11). Hiện chúng tôi tìm thấy ít nghiên cứu về sử dụng và yếu tố liên quan tới sử dụng PTTT tạm thời dài hạn tại tỉnh Đồng Tháp. Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng phụ nữ có chồng sử dụng các PTTT hiện đại tạm thời dài hạn của thị trấn Tràm Chim như thế nào ngoài báo cáo của chương trình? Và những yếu tố nào liên quan tới thực trạng này? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ từ 18- 49 tuổi có chồng tại thị trấn Tràm Chim huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp năm 2021”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ từ 18-49 tuổi có chồng tại thị trấn Tràm Chim huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp năm 2021. Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn của phụ nữ từ 18-49 tuổi có chồng tại thị trấn Tràm Chim huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chính của đề cương 1.
Phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời dài hạn Phương tiện tránh thai hiện đại tạm thời được chia thành hai nhóm, nhóm ngắn hạn và nhóm dài hạn. Nhóm dài hạn là "phương tiện tránh thai một lần sử dụng cho hiệu quả tránh thai tới nhiều tháng hoặc nhiều năm" (1). Nhóm PTTT này bao gồm dụng cụ tử cung (DCTC), thuốc tiêm tránh thai, que cấy tránh thai. Các PTTT này phải thực hiện tại cơ sở y tế do cán bộ y tế có chuyên môn thực hiện (1).
Ngoài ra, do chưa được phổ biến (chưa sẵn có) nên miếng dán tránh thai không được nghiên cứu trong đề tài này. Dụng cụ tử cung Dụng cụ tử cung (DCTC) hay vòng tránh thai là một trong những PTTT tạm thời được sử dụng rộng rãi ở những nước có thu nhập thấp và trung bình như Việt Nam do đây là biện pháp có thời gian tác động lâu với hiệu quả cao, đơn giản và dễ dùng cũng như rẻ tiền. Ở Việt Nam, DCTC đã được coi là một trong những PTTT chiến lược của chương trình DS-KHHGĐ. Hiện nay, DCTC ở Việt Nam có hai loại chính là Multiload và TCu 380.
Gần đây, DCTC có chưa nội tiết tố là Mirena cũng bắt đầu được sử dụng trên thị trường. Sau khi được đặt vào tử cung, DCTC sẽ tạo ra hiệu quả tránh thai trong nhiều năm. Cơ chế tránh thai chính của DCTC là cản trở noãn và tinh trùng gặp nhau (thay đổi nội mạc tử cung) cũng như ngăn cản trứng đã thụ tinh làm tổ trong buồng tử cung. DCTC hiện nay là biện pháp được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam với tỉ lệ có xu hướng giảm dần giai đoạn 2005-2018 (5).
Năm 2018 tỉ lệ sử dụng DCTC là 46,0% (5). Ưu điểm lớn nhất của DCTC là hiệu quả tránh thai cao và kéo dài trong thời gian dài (97%-99% trong khoảng 5-8 năm tùy loại) và khả năng phục hồi sinh sản nhanh sau khi tháo. Thao tác đặt và tháo DCTC khá đơn giản và có thể thực hiện tại các cơ sở y tế tuyến thấp nhất. Về nhược điểm, DCTC chỉ được đặt và tháo tại các cơ sở y tế với cán bộ chuyên môn được đào tạo.
Việc tháo và thay DCTC cần tuân 5 thủ quy định và hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất. Bên cạnh đó, DCTC có khá nhiều tác dụng phụ bao gồm đau bụng và rong huyết trong các chu kỳ đầu sau khi đặt. Phụ nữ cũng có thể ra nhiều khí hư do phản ứng của nội mạc tử cung và thường hiện tượng này giảm dần theo thời gian. DCTC cũng không giúp phòng chống được các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Thuốc tiêm tránh thai Tương tự như DCTC, thuốc tiêm tránh thai cũng là một phương tiện tránh thai chứa hormon tạm thời với hiệu quả cao (>95%). Thuốc tiêm được nghiên cứu và sản xuất rộng rãi trong những năm 1970 cho đến này. Hiện nay, hàng năm có khoảng hơn 16 triệu phụ nữ ở 90 quốc gia đang sử dụng thuốc tiêm trên toàn thế giới (12). Các loại thuốc tiêm phổ biến là thuốc tiêm chỉ có progestin hoặc thuốc chứa cả hai hormone progestin và estrogen.
Cơ chế tác dụng của thuốc cũng là ngăn rụng trứng và tăng chất nhầy ở lối vào cổ tử cung giúp hạn chế tinh trùng đi vào vòi trứng và hạn chế sự phát triển của niêm mạc tử cung dẫn đến trứng đã thụ tinh không thể làm tổ. Gần đây, một loại thuốc tiêm tránh thai mới được phát triển cho phép tiêm dưới da (dưới da) thay vì tiêm bắp (13). Với loại thuốc này, phụ nữ có thể tự tiêm thuốc tại nhà mà không cần đến cán bộ y tế (14). Ở Việt Nam, loại thuốc tiêm tránh thai phổ biến là loại chỉ có progestin với tên gọi Depoprovera.
Thuốc tiêm sử dụng bằng cách tiêm bắp sâu định kỳ với tác dụng tránh thai từ 1-3 tháng tùy từng loại thuốc. Vì thế, thuốc tiêm cũng là loại tránh thai có thời gian tác dụng dài và không cần dùng mỗi ngày nên sẽ giúp phụ nữ tránh hiện tượng quên uống thuốc như thuốc uống. Ngoài ra, thuốc tiêm cũng làm giảm nguy cơ u xơ tử cung và ung thư niêm mạc tử cung ở phụ nữ. Tuy nhiên, thuốc tiêm cũng có tác dụng phụ với người dùng bao gồm rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, tăng cân nhanh và chậm có khả năng thai trở lại khi ngừng dùng (1).
Thuốc tiêm cũng không giúp phòng chống được các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Thuốc tiêm không phải là một PTTT phổ biến ở Việt Nam với tỉ lệ sử dụng khoảng 1,6% ở phụ nữ đã có chồng năm 2018 (5). Tuy vậy, trong nhóm phụ nữ hiện 6 đang có chồng và có nhiều hơn 3 con hiện đang còn sống, thuốc tiêm lại có tỉ lệ sử dụng tương đối cao với 36,1% (5). Que cấy tránh thai Tương tự như các phương tiện tránh thai tạm thời dài hạn, que cấy tránh thai là một PTTT có hiệu quả cao (99%) với thời gian tác dụng kéo dài từ 3-5 năm sau một lần cấy duy nhất.
Que cấy tránh thai là những ống nhỏ chứa thuốc tránh thai (nội tiết tố levonorgestrel hay etonogestrel) và được cấy dưới da tay phụ nữ. Que có tác dụng tránht hai ngay sau 24 tiếng được cấy. Cơ chế tránh thai của que cấy là làm cổ tử cung đặc chất nhầy từ đó ngăn cản tinh trùng đi vào buồng tử cung và ngăn cản quá trình rụng trứng.