Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue 1. Thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới SXHD được WHO xếp vào loại bệnh đáng quan tâm nhất do muỗi truyền. Đây là bệnh lan truyền tốc độ rất nhanh, trong 50 năm qua số ca bệnh tăng lên hơn 30 lần trên toàn cầu.
Thực tế có hơn 2,5 tỷ người, khoảng hơn 30% dân số thế giới và hơn 100 quốc gia phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh SXHD. Các đợt dịch SXHD đáng quan tâm nhất gần đây thường xảy ra ở khu vực Đông Nam Á, châu Mỹ và Tây Thái Bình Dương. Mỗi năm ước tính trên toàn thế giới có khoảng 390 triệu ca nhiễm virus Dengue, trong số này có khoảng 500.000 ca phát triển thành thể nặng và ước tính có trên 25.000 ca tử vong mỗi năm trên toàn thế giới[2]. Bệnh có thể gây thành dịch lớn và có tỷ lệ tử vong cao.
Bệnh SXHD được phát hiện vào những năm 50 của thế kỷ trước, có xu hướng lan rộng và lưu hành ra nhiều quốc gia trên thế giới, hiện bệnh đã lưu hành tại 128 quốc gia nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới như vùng Đông Nam Á, châu Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, trong đó Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo WHO, mỗi năm có khoảng 390 triệu trường hợp mắc, phần lớn là trẻ em dưới 15 tuổi, tỷ lệ tử vong trung bình do SXHD khoảng 2,5-5%[22]. Sự phân bố của Dengue trên thế giới năm 2013[40] 4 1. Thực trạng bệnh SXHD ở khu vực Đông Nam Á Trong năm 2016 tại các nước như Malaysia, Philippines, Campuchia, Lào, Việt Nam có ghi nhận các trường hợp mắc và tử vong do SXHD.
Theo báo cáo mới nhất đến ngày 29 tháng 12 năm 2015 của WPRO, tình hình SXHD năm 2015 ở một số nước khu vực Đông Nam Á đều có xu hướng tăng hơn so với năm 2014 [40].1: Số ca mắc SXHD năm 2014-2015 theo các quốc gia Đông Nam Á Số ca mắc Sốt xuất huyết Tỷ lệ mắc Tên nước Năm 2014 Năm 2015 Năm 2015/2014 Việt Nam 17. cho thấy tình hình bệnh SXHD tại các nước khu vực Đông Nam Á trong 02 năm 2014, 2015 số ca mắc bệnh SXHD tăng: Việt Nam 4,50 lần; Campuchia 4,24 lần; Lào 1,13 lần; Malaysia 1,13 lần; Singapore giảm 0,58 lần [41]. Thực trạng bệnh SXHD ở Việt Nam Tại Việt Nam, bệnh lưu hành ở cả nước, nhưng tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Nam và miền Trung. Bệnh có tính chất chu kỳ bùng phát 3 – 5 năm/lần, dịch thường gia tăng vào mùa mưa, miền Bắc vào khoảng tháng 4 đến tháng 10, miền Nam vào khoảng tháng 4 đến tháng 11.
Giai đoạn từ 1980 - 1999, trung bình mỗi năm ghi nhận 100.000 trường hợp mắc, 300 - 400 trường hợp tử vong. Đặc biệt năm 1987 dịch bùng phát với số mắc trên 300.000 trường hợp và trên 1.500 trường hợp tử vong. Giai đoạn từ 2000 - 2015 tình hình dịch đã giảm, trung bình mỗi năm ghi nhận khoảng 50.000 trường hợp mắc, khoảng 100 trường hợp tử vong. Trong đó, năm 2010 có số mắc cao nhất với 128.710 trường hợp mắc, 109 ca tử vong.
Số mắc giảm dần qua các năm, năm 2014 ghi nhận thấp nhất với 31.848 5 trường, 20 trường hợp tử vong, năm 2015 do vào vòng đời dịch vì vậy số mắc tăng lên 97.484 trường hợp mắc, 66 trường hợp tử vong [21] [41]. Số mắc, tử vong do SXHD tại Việt Nam từ năm 1980 đến 2015 [41] Các tỉnh, thành phố có tỷ lệ mắc/100.000 dân cao nhất cả nước: Kon Tum (291,3/100.000 dân), Khánh Hòa (284,4/100.000 dân), Gia Lai (218,2/100.000 dân), Đắk Nông (197,3/100.000 dân), Bình Định (182,9/100.000 dân), Phú Yên (167,6/100.000 dân), Bình Phước (127/100.000 dân), Đồng Tháp (101,9/100.000 dân), Bình Dương (96,2/100. Đến 31 tháng 8 năm 2016, Việt Nam ghi nhận 63.504 ca mắc bệnh SXHD, trong đó có 20 ca tử vong. Có 44/63 tỉnh thành ở Việt Nam có ghi nhận trường hợp mắc bệnh SXHD.
So với trung bình giai đoạn 2011 – 2015 số ca mắc bệnh SXHD từ tháng 1 đến tháng 8 trong năm 2016 luôn cao và cao hơn so với cùng kỳ năm 2015, được thể hiện của Biểu đồ 1. Tình hình mắc bệnh SXHD Việt Nam 08 tháng đầu năm 2016 6 Theo WHO những nhân tố chính chịu trách nhiệm về sự xuất hiện và tái xuất hiện của bệnh SXHD ở Việt Nam là mật độ cao và phân bố địa lý rộng lớn của muỗi Aedes, sự lưu hành của cả bốn loại virus Dengue. Ở Việt Nam tình trạng thiếu nguồn cung cấp nước sạch vùng nông thôn, nhà ở thiếu nhà vệ sinh, thiếu hệ thống xử lý rác thải và hệ thống xử lý nước thải kém đồng nghĩa với việc người dân phải trữ nước trong hoặc gần nhà để sử dụng. Điều này càng làm tăng mật độ véc tơ truyền bệnh SXHD.
Tình hình dịch tễ ngày càng trở nên trầm trọng thêm bởi sự thất bại của hệ thống y tế địa phương trong việc duy trì, kiểm soát sự lan truyền của muỗi Aedes. Việc chẩn đoán SXHD ở tuyến huyện hầu như được chẩn đoán bằng các dấu hiệu lâm sàng. Chỉ có khoảng 15-20% ca mắc SXHD được chẩn đoán bằng xét nghiệm huyết thanh và 3-5% được chẩn bằng phân lập virus; Hàng năm cả bốn tuýp huyết thanh SXHD đều được xác định, song phân bố của mỗi tuýp huyết thanh trong tỷ lệ tổng số ca bệnh thay đổi theo năm; Công tác chẩn đoán SXHD đã được cải thiện, song vẫn cần có các công cụ tốt hơn cho chẩn đoán sớm, nhanh, đặc hiệu và nhạy [11]. Kiểm soát: Chiến lược kiểm soát thông thường nhất được áp dụng từ trước tới nay là cách tiếp cận theo chiều dọc, từ trên xuống, kiểm tra từng nhà, phun thuốc diệt muỗi và xử lý các vật dụng chứa nước, nơi muỗi sinh sản và giáo dục cộng đồng.
Vì muỗi truyền bệnh SXHD sinh sản chủ yếu trong các DCCN, nên việc tập trung vào những DCCN để kiểm soát véc tơ truyền bệnh tương đối dễ dàng, nhất là loại bỏ những vật dụng phế thải đọng nước là nơi muỗi đẻ trứng. Chương trình giám sát và kiểm soát SXHD đã triển khai, thí điểm nhiều mô hình tại cộng đồng như: Dùng Mesocyclops (một loài giáp xác chân kiếm) vào vật dụng chứa nước để diệt bọ gậy; Phát cá bảy màu cho học sinh để các em mang về nhà thả vào vật dụng chứa nước; Thiết lập mạng lưới cộng tác viên phòng chống SXHD tại những cộng đồng có SXHD lưu hành nặng [9]. Thực trạng bệnh SXHD ở Tây Nguyên Trong 07 tháng đầu năm 2016 dịch bệnh SXHD xảy ra trên tất cả các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên với ghi nhận 7.411 trường hợp mắc, 04 trường hợp tử vong. Trong đó, tỉnh Gia Lai với 3.865 (chiếm 25,9% số mắc khu vực), tỉnh Kon Tum là 1.387 (chiếm 18,7% số ca mắc trong khu vực), tỉnh Đăk Nông là 1.
Số mắc SXHD/100.000 dân tại khu vực từ năm 2010 đến 7/2016 1. Thực trạng bệnh SXHD ở tỉnh Đăk Nông Tỉnh Đắk Nông năm trên quốc lộ 14, là cửa ngõ nối các tỉnh Tây Nguyên với khu vực miền đông Nam bộ, có hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa nắng), có 07 huyện và 01 thị xã, có 02 khu công nghiệp Tâm Thắng, huyện Cư Jut và khu công nghiệp Alumin Nhân Cơ, huyện Đắk R’Lấp. Theo thống kê của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Đắk Nông năm 2014 có 133 ca mắc SXHDSXHD, năm 2015 có 491 ca và 10 tháng đầu năm 2016 ghi nhận 2. Đến ngày 30 tháng 10 năm 2016 tình hình mắc bệnh SXHD ở các huyện, thị xã như sau: Thị xã Gia Nghĩa: 750 ca, chiếm 32,95%; Đăk Mil: 447 ca, chiếm 19,64%; Đăk R’Lấp: 417 ca, chiếm 18,32%; huyện Krông Nô: 232 ca, chiếm 10,9%; Cư Jút: 186 ca, chiếm 8,17%; Đăk Glong: 104 ca, chiếm 4,57%; Đăk Song: 97 ca, chiếm 4,26%; Tuy Đức: 43 ca, chiếm 1,89%.
Số mắc SXHD theo tuần tại tỉnh Đăk Nông năm 2016 Qua Biểu đồ 1.4 bệnh SXHD có dấu hiệu tăng từ tuần thứ 21 (ngày 16/5/2016 đến ngày 22/5/2016) và có chiều hướng giảm từ tuần 34 (01/8/2016 đến 07/8/2016). Như vậy ta thấy tình hình bệnh SXHD của tỉnh Đăk Nông cũng có chiều hướng mắc cao vào các tháng mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm). Thực trạng bệnh SXHD ở huyện Đăk R’Lấp Tính đến ngày 30 tháng 10 năm 2016 trên địa bàn huyện Đăk R’Lấp ghi nhận 417 trường hợp mắc bệnh SXHD. So với cùng kỳ năm 2015 (35 ca) tăng 382 ca.
Tình hình dịch bệnh SXHD được thể hiện qua biểu đồ đường cong chuẩn sau: Biểu đồ 1. Đường cong chuẩn SXHD năm 2016 tại huyện Đăk R’Lấp Biểu đồ 1.5 cho thấy tình hình bệnh SXHD trên địa bàn huyện Đăk R’Lấp năm 2016 có nguy cơ bùng phát dịch ngay từ đầu năm, số ca mắc SXHD trong năm 9 2016 luôn nằm trên đường cong chuẩn. Số ca mắc bệnh SXHD tại các xã, thị trấn được trình bày trong Bảng 1.2: Số ca mắc SXHD tại các xã, thị trấn Số mắc SXHD và SXHD STT Địa phương SXHD nặng Tổng có dấu hiệu cảnh báo ≤15 tuổi cộng Tổng ≤15 tuổi Tổng ≤15 tuổi 1 Kiến Đức 88 31 0 0 88 31 2 Nhân Cơ 75 27 0 0 75 27 3 Đăk Ru 48 18 0 0 48 18 4 Nghĩa Thắng 41 9 0 0 41 9 5 Quảng Tín 40 16 0 0 40 16 6 Kiến Thành 37 15 0 0 37 15 7 Đăk Wer 29 7 0 0 29 7 8 Đăk Sin 28 9 0 0 28 9 9 Đạo Nghĩa 16 6 0 0 16 6 10 Hưng Bình 8 2 0 0 8 2 11 Nhân Đạo 7 2 0 0 7 2 Tổng cộng 417 142 0 0 417 142 Bảng 1.2 cho thấy số ca mắc cao nhất tại 3 địa phương gồm thị trấn Kiến Đức 88 ca, chiếm 21,10%; xã Nhân Cơ 75 ca, chiếm 17,99%; Đăk Ru 48 ca, chiếm 11,51%. Số trẻ em dưới 15 tuổi mắc bệnh SXHD: 142 ca, chiếm 34,05%.
Bản đồ hành chính huyện Đăk R’Lấp 1. Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue 1. Tác nhân gây bệnh Do Virus Dengue thuộc nhóm Flavivirrus, họ Flaviviridae với 04 tuýp huyết thanh DEN_1, DEN_2, DEN_3 và DEN_4. Virus Dengue truyền bệnh từ người bệnh sang người lành qua muỗi Aedes đốt.
Virus là loại ARN virus, có 04 tuýp huyết thanh, có những kháng nguyên rất giống nhau, có thể gây phản ứng chéo một phần sau khi bị nhiễm 1 trong 4 tuýp, và có những kháng nguyên đặc hiệu cho riêng từng tuýp. Virus có ở trong máu người bệnh trong thời gian bị sốt. Nếu nhiễm 1 trong 4 tuýp này sẽ tạo được miễn dịch suốt đời với virus có tuýp huyết thanh đó.