Đặt vấn đề Cây chè và trồng chè đã gắn bó với lịch sử lâu đời của người Việt Nam. Ngày nay, người ta coi trà là một thức uống tao nhã và mang nét văn hóa cộng đồng cao. Uống trà cũng là một một nhu cầu, đã trở thành thói quen của nhiều người. Chè có tác dụng chữa lành bệnh, bảo vệ và tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, tăng hiệu quả lao động cho con người.
Đặc biệt chè còn là loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Trong những năm qua, cây chè đã khẳng định vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của Việt Nam. Chè không những là mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngân sách nhà nước mà còn là loại cây trồng mang lại thu nhập ổn định cho người sản xuất chè. Chè (trà) là thức uống ngày càng được ưa chuộng trên thế giới vì các giá trị dinh dưỡng có trong thành phần của búp chè (như là Amino acid, Vitamin, Alkaloid và Polysaccharide…) được nghiên cứu là có lợi cho sức khỏe.
Trà còn được coi là thực phẩm chức năng có tác dụng giảm Cholesterol, chống lại sự phát triển của các tế bào ung thư, hỗ trợ giảm cân… Được thiên nhiên ưa đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên được biết đến là vùng trồng chè trong điểm của Miền Bắc. Chè Thái Nguyên đặc biệt là chè Tân Cương là sản phẩm nổi tiếng trong cả nước từ lâu. Toàn tỉnh hiện có 19.100 ha chè, trong đó gần 17.300 ha chè trong giai đoạn kinh doanh, đứng thứ 2 trên cả nước, với 29 doanh nghiệp, 30 HTX, 50 làng nghề và hàng trăm tổ hợp tác sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè với trên 60 ngàn hộ nông dân trồng chè. Chè Thái c 2 Nguyên được tiêu thụ cả thị trường trong nước và nước ngoài.
Trong đó thị trường nội địa chiếm 70 % với sản phẩm là chè xanh, chè xanh đặc sản. Cây chè được tỉnh Thái Nguyên xác định là cây trồng chủ lực, có lợi thế trong nền kinh tế thị trường. Thu nhập từ cây chè cao hơn cây trồng khác, do đó được coi là cây xóa đói giảm nghèo thậm chí còn là cây làm giàu của người nông dân ở một số địa phương của tỉnh. Tuy nhiên sản xuất chè hiện nay đang có những bất cập.
Đó là, do nhận thức không đầy đủ, người sản xuất chè đã và đang sử dụng thái quá phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Chính điều đó không những không làm tăng hiệu quả của sản xuất mà còn để lại một dư lượng lớn các chất hóa học tồn dư trong đất; nước, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, thị trường chè ở quốc tế ngày càng yêu cầu sản phẩm chè với chất lượng ngày một cao. Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển mô hình sản xuất chè an toàn trên địa bàn xã Tân Cương, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát - Nghiên cứu thực trạng và tìm ra một số giải pháp phát triển mô hình sản xuất chè an toàn tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên nhằm hướng tới một nền nông nghiệp an toàn và bảo vệ môi trường 1. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng sản xuất chè an toàn tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - So sánh hiệu quả sản xuất chè an toàn với sản xuất chè truyền thống.
c 3 - Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè an toàn tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và các nhân tố thúc đẩy/rào cản trong sản xuất chè an toàn. - Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả của sản xuất chè an toàn góp phần đẩy mạnh phát triển bền vững ngành chè xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên theo hướng thân thiện với môi trường. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và khoa học - Nghiên cứu tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Xã Tân Cương là cơ hội cho sinh viên khảo sát thực tế, áp dụng cơ sở lý thuyết vào thực tiễn, học hỏi kinh nghiệm truyền thống của địa phương, là hình thức tập luyện trước khi ra trường.
- Nâng cao kiến thức đã được học và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu. Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của bản thân trong quá trình nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các đề tài, dự án phát triển mô hình sản xuất chè an toàn tại địa phương khác.
- Cho thấy những thuận lợi, khó khăn, những điều chưa làm được và cần phải làm ở địa phương để có thể đưa ra giải pháp phù hợp để phát triển mô hình sản xuất chè an toàn tại tỉnh Thái nguyên nói riêng, cả nước nói chung. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Lịch sử cây chè tại Việt Nam 2. Về nguồn gốc cây Chè Việt Nam Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc. Cây chè Suối Giàng trong sách "Vân Đài loại ngữ" [Lê Quý Đôn, 1773] có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau: ".
Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấunước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên. Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ. “Hàng ngày, những đoàn thồ lớn 100 - 200 con lừa chất đầy muối và gạo khi đi và nặng chĩu chè khi về.
Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp cho Hoàng đế Trung Hoa. Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn. Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang, vùng Xíp xoongpảnnả".
Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang, Việt Nam (1923) và Tây Nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết ".những rừng chè, bao giờ c 5 cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam. Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catésin trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An. Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam. Từ đó, có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới như sau "Chi Camelli → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc → Chè Assam (Ấn Độ)".
Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận: cây chè xuất hiện đầu tiên từ một vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 950 đến 1200 Đông, trục Bắc Nam từ vĩ độ 290 đến 110 Bắc.2 Sự phát triển của cây Chè Việt Nam Thời kỳ trước năm 1882: từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại hình: Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng chè đồng bằng sông Hồng ở Hà Đông, chè đồi ở Nghệ An. Chè rừng vùng núi, uống chè mạn, lên men một nửa, như vùng Hà Giang, Bắc Hà. Thời kỳ 1882-1945: ngoài 2 loại chè trên, xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp; chè đen công nghệ truyền thống OTD và chè xanh sao chảo Trung Quốc. Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ c 6 hiện đại.
Người dân Việt Nam, sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh điền. Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường Bắc Phi là chủ yếu. Diện tích chè cả nước là 13305 ha, sản lượng 6.000 tấn chè khô/năm. Thời kỳ độc lập (1945 - nay): Sau năm 1954, Nhà nước xây dựng các Nông trường quốc doanh và Hợp tác xã nông nghiệp trồng chè; chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô - Đông Âu, và chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc.Đến hết năm 2015, tổng diện tích chè là 108.000 ha chè kinh doanh.
Tổng số lượng chè sản xuất 1924.5 nghìn tấn, trong đó xuất khẩu 329. Các vùng chè Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông Nam Á, cái nôi của cây chè. Khí hậu đất đai rất thích hợp với sinh trưởng cây chè. Lượng nước mưa dồi dào 1700 - 2000mm/năm, nhiệt độ 21 - 22,60C, ẩm độ không khí 80 - 85 %.
Đất đai trồng chè gồm 2 loại phiến thạch sét và bazan màu mỡ. Chè trồng ở vĩ tuyến B 11.50, chia thành 3 vùng: vùng thấp dưới 300m, vùng giữa 300 – 600 m, vùng cao 600 m đến trên 1000m, nên chất lượng chè rất tốt. Giống chè bản địa gồm 2 giống Trung du và Shan, làm được chè xanh và chè đen; đặc biệt giống chè Shan miền núi có búp nhiều lông tuyết trắng, được thị trường quốc tế rất ưa chuộng. Ngoài ra, còn những giống chè tốt làm chè đen, chè xanh, chè ô long, nhập nội của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Ấn Độ và Srilanka, Inđônêxia.
Một số khái niệm liên quan 2.