Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh lý mạn tính không lây nhiễm phổ biến hàng đầu trên phạm vi toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2000 toàn cầu ghi nhận khoảng 972 triệu người mắc THA và ước tính con số này sẽ gia tăng lên 1,56 tỷ người vào năm 2025. Báo cáo năm 2010 của WHO cũng chỉ ra rằng THA là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tử vong cho 7,5 triệu người, chiếm 12,8% tổng số ca tử vong toàn cầu. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc THA ở người trưởng thành có xu hướng gia tăng nhanh chóng qua các thập kỷ: từ mức 0,96 - 2,52% vào năm 1990 lên 2,7 - 4,4% vào năm 2020; các khảo sát dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ THA ở người cao tuổi đã lên tới 39%.

Về mặt sinh lý bệnh, THA và tổn thương thận có mối quan hệ tương hỗ phức tạp, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nhau. Theo Hệ thống Dữ liệu Bệnh thận Hoa Kỳ năm 2005 (USRDS), THA chiếm 27% nguyên nhân dẫn đến suy thận giai đoạn cuối, đứng thứ hai sau đái tháo đường (51%). Đồng thời, khoảng 50% người bệnh THA thứ phát có căn nguyên từ các bệnh lý thận, và khoảng 10% người bệnh suy thận giai đoạn cuối phải lọc máu chu kỳ xuất phát từ THA nguyên phát. Tổn thương thận mạn tính để lại di chứng nặng nề, làm suy giảm nghiêm trọng sức khỏe, tăng chi phí điều trị và tạo gánh nặng kinh tế - xã hội.

Việc tuân thủ điều trị THA có tổn thương thận đóng vai trò then chốt trong kiểm soát huyết áp, bảo tồn chức năng thận và ngăn ngừa biến chứng tim mạch. Tuân thủ phác đồ điều trị có thể giúp giảm 40% nguy cơ tai biến mạch máu não và 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, các khảo sát lâm sàng tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị chung ở người bệnh THA còn ở mức thấp (chỉ hơn 30%), tình trạng quên uống thuốc, tự ý bỏ thuốc hoặc không duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh còn diễn ra phổ biến.

Xuất phát từ thực tế đó, báo cáo chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa 1 ngành Điều dưỡng Nội người lớn của tác giả Phan Thị Thủy, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Văn Long tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định (năm 2020), được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp có tổn thương thận điều trị ngoại trú tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2020.
  2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả điều trị của người bệnh tăng huyết áp có tổn thương thận điều trị ngoại trú tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai.
  • Đối tượng nghiên cứu: 216 người bệnh đã được chẩn đoán xác định THA có tổn thương thận đang điều trị ngoại trú trong chương trình quản lý bệnh THA tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai.
  • Phạm vi không gian: Phòng quản lý bệnh THA - Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 01/09/2020 đến ngày 30/10/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và tiêu chuẩn chuyên môn

Báo cáo chuyên đề xây dựng dựa trên các hướng dẫn chẩn đoán, phân loại và quản lý bệnh lý tim mạch - thận học chuẩn quốc gia và quốc tế:

  • Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp: Dựa theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO-ISH) và Khuyến cáo của Hội Tim Mạch học Quốc gia Việt Nam năm 2010. Người trưởng thành được chẩn đoán THA khi huyết áp tâm thu (HATT) $\ge 140\text{ mmHg}$ và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) $\ge 90\text{ mmHg}$, hoặc đang sử dụng thuốc hạ áp hàng ngày. Phân độ THA gồm: Độ 1 (140-159 / 90-99 mmHg), Độ 2 (160-179 / 100-109 mmHg), Độ 3 ($\ge 180 / \ge 110\text{ mmHg}$).
  • Bệnh thận mạn (CKD) và tổn thương thận: Áp dụng định nghĩa và phân loại 5 giai đoạn theo Hội Thận học Hoa Kỳ (KDOQI 2002) và Hiệp hội Bệnh thận Toàn cầu (KDIGO 2012) dựa trên mức lọc cầu thận ước tính (MLCT/eGFR). MLCT được tính theo công thức Cockcroft - Gault dựa trên nồng độ creatinin huyết thanh, độ tuổi, cân nặng và giới tính. Dấu hiệu tổn thương thận sớm được theo dõi thông qua chỉ số Albumin vi niệu (microalbuminuria - MAU) và protein niệu.
  • Khái niệm tuân thủ điều trị: Theo định nghĩa của WHO (2013) và Quyết định về Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị THA năm 2010 của Bộ Y tế, bao gồm: tuân thủ sử dụng thuốc (đúng thuốc, đúng liều, đủ thời gian, liên tục suốt đời theo đơn bác sĩ) và tuân thủ thay đổi lối sống (giảm ăn mặn dưới 6g muối/ngày, hạn chế chất béo bão hòa, hạn chế rượu bia, ngưng hút thuốc lá, tập thể dục 30-60 phút/ngày, kiểm soát căng thẳng và tái khám định kỳ).

Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện. Tác giả lập danh sách người bệnh tham gia chương trình quản lý THA ngoại trú, tiến hành xét nghiệm máu và nước tiểu để sàng lọc người bệnh THA có tổn thương thận, thu được 216 người bệnh đạt tiêu chuẩn.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Người bệnh $\ge 18$ tuổi, có bảo hiểm y tế (BHYT), đang điều trị ngoại trú trong chương trình quản lý THA từ 01/09/2020 đến 30/10/2020, có xác nhận tổn thương thận qua cận lâm sàng, có khả năng giao tiếp và đồng ý tham gia phỏng vấn.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Người bệnh dưới 18 tuổi; không có tổn thương thận; không có BHYT; người bệnh suy giảm trí tuệ, mê sảng, mất trí nhớ, mắc bệnh lý tâm thần hoặc hạn chế nghe nói không đủ khả năng trả lời phỏng vấn; người bệnh từ chối tham gia.
  • Công cụ thu thập dữ liệu: Phiếu thu thập thông tin bệnh án (xét nghiệm sinh hóa máu, nước tiểu, phân độ THA, giai đoạn bệnh thận) và bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp gồm 4 phần (Phần A: Thông tin chung gồm 10 câu; Phần B: Kiến thức về bệnh và điều trị gồm 12 câu; Phần C: Thông tin tuân thủ dùng thuốc gồm 9 câu; Phần D: Tuân thủ thay đổi lối sống và tái khám gồm 5 câu).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này tổng thuật toàn diện các y văn trong nước và quốc tế liên quan đến cơ chế bệnh sinh của THA và tổn thương cơ quan đích:

  • Cơ chế tổn thương thận do THA: Áp lực dòng máu tăng cao làm biến đổi tế bào nội mô mạch máu, tái cấu trúc thành mạch, gây hyalin hóa lớp áo giữa và xơ hóa tiểu động mạch đến của cầu thận. Áp lực mao mạch cầu thận tăng dẫn đến rò rỉ đạm ra nước tiểu (microalbumin niệu, tiến triển thành macroalbumin niệu), giảm mức lọc cầu thận và xơ hóa thận. Ngược lại, suy giảm chức năng thận gây ứ trệ natri, nước và kích hoạt hệ Renin-Angiotensin-Aldosterone (RAAS), khiến huyết áp tăng cao khó kiểm soát.
  • Tổng quan thực trạng tuân thủ điều trị trên thế giới:
    • Nghiên cứu của Ezulier và Hussain (2000) tại Sudan cho thấy 92% người bệnh tuân thủ kiểm soát được huyết áp so với 18% ở nhóm không tuân thủ; 36,8% không tuân thủ do gánh nặng chi phí thuốc.
    • Nghiên cứu tại Serbia (2013) ghi nhận nguyên nhân không tuân thủ hàng đầu là không đúng liều (27,27%), hay quên (22,73%) và không kiểm tra sức khỏe thường xuyên (11,36%).
    • Nghiên cứu của Osamor và Owumi (2011) tại Nigeria chỉ ra tỷ lệ tuân thủ điều trị chỉ đạt 51%. Nghiên cứu của Daniel và Eugenia (2013) tại Brazil cho thấy 16 - 50% người bệnh bỏ trị trong năm đầu tiên.
  • Tổng quan thực trạng tuân thủ điều trị tại Việt Nam:
    • Trần Thị Loan (2012) tại Bệnh viện C Thái Nguyên: tỷ lệ tuân thủ thuốc đạt 51,4%, tuân thủ lối sống đạt 47,1%, tuân thủ điều trị chung đạt 35,7%.
    • Nguyễn Hữu Đức (2012) tại CLB Tăng huyết áp Bệnh viện Bạch Mai: tỷ lệ tuân thủ chung đạt 85,6%, tuy nhiên có 33% người bệnh vẫn hiểu sai rằng THA có thể chữa khỏi hoàn toàn.
    • Nguyễn Tuấn Khanh (2013) tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang: tỷ lệ tuân thủ điều trị chỉ đạt 26,3%; lý do không tuân thủ gồm sợ hạ huyết áp quá mức (65%), sợ tác dụng phụ (53%), khó khăn kinh tế (48,6%).
    • Nguyễn Hải Yến (2011) tại Bệnh viện E: tỷ lệ tuân thủ toàn diện cả 6 khuyến cáo điều trị chỉ đạt 1,9%.

Chương 2: Mô tả vấn đề cần giải quyết

Chương này trình bày chi tiết kết quả khảo sát cắt ngang trên 216 người bệnh THA có tổn thương thận tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai trong tháng 9 và tháng 10 năm 2020:

1. Đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng của đối tượng khảo sát

  • Đặc điểm chung: Nữ giới chiếm 53% (115 người), nam giới chiếm 47% (101 người). Nhóm tuổi trên 70 chiếm đa số với 55% (118 người, tuổi trung bình $70,5 \pm 9,2$ tuổi), nhóm dưới 70 tuổi chiếm 45% (97 người). Đối tượng hưu trí chiếm 86,6%, trong độ tuổi lao động chiếm 13,4%. Tỷ lệ kết hôn là 92,6%. Về kinh tế, 99,1% thuộc hộ không nghèo, chỉ có 0,9% thuộc hộ nghèo. Về khoảng cách, 51,4% ở cách bệnh viện $>50\text{ km}$ và 48,6% ở $\le 50\text{ km}$.
  • Mức độ tăng huyết áp: THA Độ II chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,6% (92 người); THA Độ I chiếm 30,1% (65 người); THA Độ III chiếm 27,3% (59 người). Thời gian phát hiện bệnh $<5$ năm chiếm 56,5% (122 người) và $\ge 5$ năm chiếm 43,5% (94 người).
  • Mức độ tổn thương thận: Phân bố theo giai đoạn bệnh thận mạn cho thấy bệnh thận mạn giai đoạn 3 chiếm tỷ lệ áp đảo với 79,6% (172 người); giai đoạn 4 và 5 chiếm 11,6% (25 người); giai đoạn 1 và 2 chiếm 8,8% (19 người).
  • Bệnh lý kết hợp: Người bệnh có tỷ lệ mắc kèm rối loạn mỡ máu là 56,9% (123 người); đái tháo đường 50,0% (108 người); tai biến mạch máu não 18,5% (40 người); suy tim 12,0% (26 người). Tỷ lệ ghi nhận tác dụng phụ của thuốc ở mức trung bình và nhiều lên tới 77,8%.
Đặc điểm khảo sát ($n=216$) Phân nhóm Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nữ 115 53,0%
Nam 101 47,0%
Nhóm tuổi $\ge 70$ tuổi 118 55,0%
$< 70$ tuổi 97 45,0%
Mức độ THA Độ I 65 30,1%
Độ II 92 42,6%
Độ III 59 27,3%
Giai đoạn bệnh thận mạn Giai đoạn 1 và 2 19 8,8%
Giai đoạn 3 172 79,6%
Giai đoạn 4 và 5 25 11,6%
Thời gian mắc THA $< 5$ năm 122 56,5%
$\ge 5$ năm 94 43,5%

2. Thực trạng kiến thức và mức độ tuân thủ điều trị

  • Kiến thức của người bệnh: 99% (214 người) nắm được tình trạng bệnh thận của bản thân; 77,8% nắm được việc THA có kèm tổn thương thận; 94,4% hiểu công dụng các thuốc đang dùng; 83,3% nhận thức được THA phải điều trị suốt đời (vẫn còn 16,7% cho rằng không cần điều trị suốt đời). Tuy nhiên, có tới 79,1% người bệnh hiểu biết rất ít về tác dụng phụ của thuốc.
  • Tuân thủ sử dụng thuốc: 96,8% người bệnh tin tưởng tuyệt đối vào bác sĩ điều trị. Tỷ lệ tuân thủ uống thuốc mỗi ngày từ lúc bắt đầu điều trị đạt 60,6% (131 người); thi thoảng quên chiếm 31,0% (67 người); hoàn toàn không tuân thủ chiếm 8,3% (18 người). Trong tuần gần nhất, có 31,0% người bệnh quên uống thuốc; 30,1% quên mang thuốc khi đi xa nhà; 32,4% tự ý ngừng thuốc khi thấy huyết áp đã ổn định; 69,0% cảm thấy khó khăn khi phải ghi nhớ uống nhiều loại thuốc cùng lúc.
  • Lý do quên uống thuốc: Không có người nhắc nhở (74,5%), tuổi cao khó nhớ (70,4%), bận công việc (67,6%), phải uống quá nhiều loại thuốc (62,0%).
  • Tuân thủ thay đổi lối sống và tái khám:
    • Bỏ thuốc lá/thuốc lào: 85,7% đã ngưng hút (13,8% vẫn hút thuốc).
    • Chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi: 80,0% duy trì nghỉ ngơi hợp lý, tránh căng thẳng (20,0% vẫn sinh hoạt như trước).
    • Luyện tập thể chất: 64,0% tập thể dục 30 - 60 phút/ngày; 31,4% tập $<30$ phút/ngày; 4,6% tập $>60$ phút/ngày (11,1% hoàn toàn không tập).
    • Chế độ ăn uống: 89,4% giảm ăn mặn ($<6\text{g muối/ngày}$), nhưng có 79,6% người bệnh vẫn ăn lượng thịt $>200\text{g/ngày}$.
    • Theo dõi huyết áp tại nhà: 86,0% thường xuyên đo và ghi chỉ số huyết áp vào sổ (14,0% không bao giờ đo).
    • Tái khám định kỳ: 73,2% tái khám đúng hẹn hàng tháng; 15,2% chỉ đi khám khi có dấu hiệu bất thường; 11,6% không đến khám đúng hẹn.
Hành vi tuân thủ điều trị ($n=216$) Mức độ thực hiện Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Uống thuốc hàng ngày từ khi điều trị Tuân thủ đều đặn 131 60,6%
Thi thoảng quên 67 31,0%
Không tuân thủ 18 8,3%
Quên uống thuốc trong tuần qua Không quên 149 69,0%
Có quên 67 31,0%
Tự ý ngừng thuốc khi HA ổn định Không tự ý ngừng 146 67,6%
Có tự ý ngừng 70 32,4%
Quên mang thuốc khi đi xa Không quên 151 69,9%
Có quên 65 30,1%
Cảm thấy khó khăn khi nhớ nhiều thuốc Thấy khó khăn 149 69,0%
Không thấy khó khăn 67 31,0%
Chế độ tái khám Đúng hẹn hàng tháng 158 73,2%
Chỉ khám khi bất thường 33 15,2%
Không đúng hẹn 25 11,6%

3. Các tồn tại và nguyên nhân xác định

  • Tồn tại: Vẫn còn 39,4% người bệnh chưa tuân thủ thuốc hoàn toàn (31% thi thoảng quên, 8,3% không tuân thủ); gần 1/3 người bệnh tự ý dừng thuốc khi thấy huyết áp tạm thời ổn định; tỷ lệ người bệnh mắc đa bệnh lý phối hợp phải dùng nhiều đơn thuốc phức tạp còn cao; chế độ ăn hạn chế đạm ở người bệnh tổn thương thận chưa tốt (gần 80% ăn $>200\text{g thịt/ngày}$); 14% không tự đo huyết áp và 26,8% chưa tuân thủ tái khám định kỳ đúng hẹn.
  • Nguyên nhân:
    • Về phía người bệnh: Đa số cao tuổi (55% trên 70 tuổi) dẫn đến suy giảm trí nhớ sinh lý; thiếu sự hỗ trợ nhắc nhở từ người thân; tâm lý chủ quan khi không có triệu chứng cơ năng rõ rệt; áp lực công việc hoặc thói quen dùng thuốc nam/thuốc không rõ nguồn gốc (39,8% từng sử dụng).
    • Về phía cơ sở y tế và nhân viên: Tình trạng quá tải tập trung vào buổi sáng; thời điểm khảo sát bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 khiến nhân lực y tế phải dồn sức cho phân luồng, sàng lọc, đo thân nhiệt nên thời gian tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK) bị hạn chế; khoa khám bệnh còn thiếu phòng tư vấn riêng biệt, thiếu pano/tivi trình chiếu truyền thông; kỹ năng truyền thông tư vấn của điều dưỡng trẻ còn hạn chế, chưa cá nhân hóa hướng dẫn cho từng người bệnh.

Chương 3: Đề xuất các giải pháp

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng và phân tích nguyên nhân, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp đồng bộ chia thành hai nhóm đối tượng:

1. Đối với Bệnh viện, Khoa Khám Bệnh và Nhân viên y tế

  • Cơ sở vật chất và truyền thông: Lắp đặt tivi tại sảnh chờ phát video hướng dẫn tự chăm sóc bệnh THA và bệnh thận; bố trí bảng pano, phát tài liệu, tờ rơi in màu chuẩn hóa hướng dẫn dùng thuốc, chế độ ăn giảm muối, giảm đạm và theo dõi huyết áp.
  • Nâng cao năng lực điều dưỡng: Định kỳ tổ chức tập huấn, đào tạo lại kỹ năng giao tiếp và kỹ năng tư vấn GDSK hàng năm; tổ chức sinh hoạt chuyên môn điều dưỡng cấp khoa/bệnh viện với tần suất 1 tháng/lần. Thực hiện quy trình tư vấn xuyên suốt: từ lúc tiếp đón, trong quá trình khám và trước khi người bệnh ra về.
  • Hoạt động câu lạc bộ người bệnh: Duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ người bệnh tăng huyết áp định kỳ 2 tháng/lần để lồng ghép giáo dục sức khỏe, tạo không gian cho người bệnh chia sẻ kinh nghiệm tự chăm sóc.
  • Ứng dụng công nghệ thông tin: Xây dựng phần mềm bệnh án điện tử quản lý người bệnh THA có tổn thương thận, tích hợp tính năng tự động gửi tin nhắn/thông báo nhắc lịch uống thuốc và hẹn tái khám; điều dưỡng chủ động liên hệ qua điện thoại nhắc nhở các trường hợp nguy cơ cao.

2. Đối với Người bệnh THA có tổn thương thận

  • Tuân thủ điều trị bằng thuốc: Tuyệt đối tuân thủ đơn thuốc của bác sĩ, không tự ý ngừng, giảm liều hoặc thêm thuốc; ghi chép lại các tác dụng không mong muốn để trao đổi với bác sĩ trong kỳ tái khám thay vì tự ý bỏ thuốc.
  • Thiết lập công cụ nhắc nhở: Khuyến khích người bệnh cài đặt chuông báo thức hoặc ứng dụng nhắc thuốc trên điện thoại thông minh; nhờ người thân trong gia đình hỗ trợ nhắc nhở giờ uống thuốc hàng ngày.
  • Tự theo dõi huyết áp: Trang bị máy đo huyết áp điện tử tại nhà, thực hiện đo và ghi chép nhật ký huyết áp hàng ngày vào sổ theo dõi mang theo mỗi lần tái khám.
  • Thay đổi lối sống: Thực hiện nghiêm ngặt chế độ ăn nhạt ($<6\text{g muối/ngày}$), kiểm soát lượng thịt ($<200\text{g/ngày}$ để bảo vệ thận), ngừng hút thuốc lá/thuốc lào hoàn toàn, hạn chế tối đa bia rượu, duy trì vận động thể lực vừa sức 30 - 60 phút mỗi ngày và tránh căng thẳng thần kinh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập bức tranh dịch tễ học và lâm sàng chi tiết trên mẫu 216 người bệnh THA có tổn thương thận ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai: độ tuổi trung bình $70,5 \pm 9,2$ tuổi; tỷ lệ nữ (53%) cao hơn nam (47%); 79,6% người bệnh đã ở giai đoạn bệnh thận mạn mức độ 3; tỷ lệ bệnh lý đồng mắc cao (56,9% rối loạn mỡ máu, 50% đái tháo đường).
  • Đo lường chính xác các chỉ số tuân thủ: 60,6% tuân thủ thuốc đều đặn từ đầu; 31,0% thi thoảng quên và 8,3% không tuân thủ; 32,4% tự ý ngừng thuốc khi thấy huyết áp hạ; 69,0% gặp khó khăn khi dùng nhiều loại thuốc.
  • Nhận diện các yếu tố cản trở tuân thủ lớn nhất: không có người nhắc nhở (74,5%), suy giảm trí nhớ tuổi già (70,4%), bận rộn (67,6%) và chế độ đa thuốc (62,0%).

Đóng góp thực tiễn của đề tài

  • Chuyên đề cung cấp số liệu thực chứng cụ thể về một nhóm đối tượng chuyên biệt (người bệnh THA có biến chứng tổn thương thận điều trị ngoại trú tại bệnh viện tuyến cuối hạng đặc biệt) - một phân nhóm người bệnh có nguy cơ tim mạch rất cao nhưng chưa được khảo sát sâu trong các nghiên cứu điều dưỡng trước đây.
  • Đóng góp cho công tác quản lý điều dưỡng tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai căn cứ xác thực để tái cơ cấu quy trình tư vấn giáo dục sức khỏe, phân bổ nhân lực hợp lý giữa các buổi khám và đề xuất các giải pháp hỗ trợ thiết thực (sổ theo dõi, tin nhắn nhắc lịch, sinh hoạt câu lạc bộ).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang với phương pháp chọn mẫu thuận tiện trong thời gian ngắn (tháng 9 - 10/2020) tại một cơ sở y tế duy nhất (Bệnh viện Bạch Mai), do đó tính đại diện cho toàn bộ quần thể người bệnh THA có tổn thương thận tại cộng đồng có thể bị giới hạn.
    • Thời điểm thu thập số liệu trùng với giai đoạn phòng chống dịch bệnh COVID-19, gây ra những biến động nhất định về tâm lý, thời gian tái khám và quy trình tiếp đón người bệnh tại bệnh viện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô nghiên cứu can thiệp điều dưỡng có đối chứng để đánh giá hiệu quả thực tế của mô hình phần mềm/tin nhắn nhắc nhở tự động kết hợp tư vấn cá nhân hóa đối với tỷ lệ tuân thủ và tiến triển chức năng thận.
    • Triển khai nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) đa trung tâm nhằm đánh giá mối tương quan dài hạn giữa mức độ tuân thủ điều trị với tốc độ suy giảm mức lọc cầu thận (eGFR) và tỷ lệ biến cố tim mạch.

Giá trị tham khảo

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp này là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Học viên, sinh viên ngành Điều dưỡng, Bác sĩ Y đa khoa, Nội khoa Tim mạch và Thận học: Tham khảo cách xây dựng bộ công cụ khảo sát tuân thủ điều trị, quy trình đánh giá tổn thương thận qua MLCT/eGFR và phương pháp tiếp cận nghiên cứu hành vi sức khỏe người bệnh mạn tính.
  • Điều dưỡng trưởng, cán bộ quản lý phòng khám ngoại trú: Tham khảo các bảng kiểm, số liệu thực trạng và các đề xuất can thiệp nâng cao chất lượng tư vấn GDSK, tổ chức Câu lạc bộ người bệnh mạn tính và quản lý hồ sơ bệnh án điện tử.
  • Cán bộ y tế tuyến cơ sở: Áp dụng các khuyến cáo về thay đổi lối sống đặc thù cho người bệnh THA có tổn thương thận (kiểm soát đạm, giảm muối, theo dõi huyết áp tại nhà) vào công tác truyền thông cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu của chuyên đề gồm những điều kiện nào?

Người bệnh được đưa vào nghiên cứu phải thỏa mãn đồng thời các tiêu chuẩn: đang điều trị ngoại trú trong chương trình quản lý bệnh THA tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Bạch Mai trong khoảng thời gian từ 01/09/2020 đến 30/10/2020; được chẩn đoán xác định THA có tổn thương thận qua kết quả xét nghiệm máu và nước tiểu; từ 18 tuổi trở lên; có thẻ BHYT; có khả năng giao tiếp, đủ năng lực hành vi và thể lực để trả lời phỏng vấn; đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu.

2. Mức độ tổn thương thận và các bệnh mắc kèm phổ biến nhất ở nhóm người bệnh khảo sát là gì?

Về tổn thương thận, đa số người bệnh thuộc Bệnh thận mạn giai đoạn 3 (chiếm 79,6%), tiếp đến là giai đoạn 4 và 5 (11,6%), giai đoạn 1 và 2 chiếm tỷ lệ thấp nhất (8,8%). Về bệnh lý mắc kèm, rối loạn mỡ máu là bệnh phổ biến nhất (56,9%), tiếp theo là đái tháo đường (50,0%), tai biến mạch máu não (18,5%) và suy tim (12,0%).

3. Những nguyên nhân hàng đầu khiến người bệnh quên uống thuốc được ghi nhận trong nghiên cứu là gì?

Bốn lý do hàng đầu khiến người bệnh quên uống thuốc bao gồm: không có người thân nhắc nhở (chiếm tỷ lệ cao nhất với 74,5%), tuổi cao suy giảm trí nhớ khó nhớ giờ giấc (70,4%), bận rộn công việc hàng ngày (67,6%) và do phải uống cùng lúc quá nhiều loại thuốc điều trị các bệnh đồng mắc (62,0%).

4. Tỷ lệ người bệnh tự ý ngừng thuốc khi thấy huyết áp ổn định và tỷ lệ quên mang thuốc khi đi xa nhà là bao nhiêu?

Kết quả khảo sát cho thấy có 32,4% (70 người bệnh) thừa nhận từng tự ý ngừng uống thuốc khi cảm thấy huyết áp đã được kiểm soát ổn định. Bên cạnh đó, có 30,1% (65 người bệnh) cho biết họ từng quên mang theo thuốc hạ áp và thuốc thận khi có việc phải đi xa nhà.

5. Tác giả đề xuất những giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin nào để cải thiện tỷ lệ tuân thủ điều trị?

Tác giả đề xuất xây dựng phần mềm quản lý bệnh án điện tử chuyên biệt cho người bệnh THA có tổn thương thận; thiết lập hệ thống cảnh báo tự động gửi tin nhắn/thông báo nhắc người bệnh uống thuốc đúng giờ và nhắc lịch tái khám định kỳ; kết hợp quy trình điều dưỡng phòng khám chủ động gọi điện thoại hỏi thăm và nhắc lịch khám đối với các trường hợp người bệnh có nguy cơ bỏ trị.


Kết luận

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của học viên Phan Thị Thủy đã phản ánh toàn diện thực trạng tuân thủ điều trị ở 216 người bệnh tăng huyết áp có tổn thương thận điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2020, chỉ ra tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc đều đặn mới đạt 60,6% và vẫn còn 32,4% người bệnh tự ý ngừng thuốc khi huyết áp ổn định. Nghiên cứu đã làm rõ các rào cản chính đến từ sự suy giảm trí nhớ tuổi già, gánh nặng đa thuốc và thiếu hụt hệ thống nhắc nhở hỗ trợ. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp khả thi, kết hợp giữa nâng cao năng lực tư vấn của điều dưỡng, duy trì câu lạc bộ người bệnh và ứng dụng công nghệ thông tin nhắc nhở tự động nhằm bảo tồn chức năng thận và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.