Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những khái niệm, thông tin liên quan đến TNGT và sử dụng rượu bia 1. Những khái niệm, quy định liên quan đến TNGT và rượu bia Đường bộ gồm đường, cầu, hầm đường bộ, bến phà đường bộ [18]. Phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ [18].
Máy kéo là loại xe gồm phần đầu máy tự di chuyển, được lái bằng càng hoặc vô lăng và rơ moóc được kéo theo (có thể tháo rời với phần đầ u kéo) [8]. Các loại xe tương tự xe ô tô là loại phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng động cơ có từ hai trục, bốn bánh xe trở lên, có phần động cơ và thùng hàng lắp trên cùng một xát xi [8]. Các loại xe tương tự xe mô tô là phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng động c ơ, có hai bánh hoặc ba bánh, dung tích làm việc của động cơ từ 50 cm3 trở lên, có vận tốc thiết kế lớn nhất trên 50 km/h, có khối lượng bản thân không lớn hơn 400 kg [8]. Các loại xe tương tự xe gắn máy là phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất nhỏ hơn hoặc bằng 50 km/h [8].
Xe đạp điện (xe đạp máy) là xe thô sơ hai bánh có lắp động cơ, vận tốc thiết kế lớn nhất nhỏ hơn hoặc bằng 25 km/h và khi tắt máy thì đạp xe đi được [8]. Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật và người đi bộ trên đường bộ [18]. Người điều khiển phương tiện gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ [18]. Người lái xe là người điều khiển xe cơ giới [18].
5 Tai nạn giao thông là những trường hợp tai nạn xảy ra do sự va chạm bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người; xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở địa bàn giao thông công cộng; nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không thể phòng tránh, gây ra thiệt hại về tí nh mạng hoặc sức khỏe [36]. Theo mức độ thiệt hại trong vụ tai nạn, người ta chia TNGT thành các loại: va chạm giao thông, TNGT ít nghiêm trọng, TNGT nghiêm trọng, TNGT rất nghiêm trọng và TNGT đặc biệt nghiêm trọng [16]. Rượu là một hợp chất hữu cơ có chứa nhóm OH, rượu con người thường uống là ethanol (một loại alcool được tìm thấy trong các đồ uống chứa cồn); nó được xem là một chất ức chế hệ thần kinh trung ương. Tình trạng ức chế này có thể gây hôn mê và chết khi nồng độ cồn/máu đạt tới mức trên 300 mg/dl.
Xét nghiệm xác định nồng độ cồn trong máu thường được thực hiện như một phần của biên bản điều tra pháp y liên quan đến TNGT. Mỗi quốc gia phê chuẩn một giới hạn riêng về nồng độ cồn trong máu được xem là ngưỡng gây ngộ độc [1]. Giá trị bình thường của ethanol: 0 mg/dl (dưới 10 mg/dl) [1]. Ảnh hưởng của tăng nồng độ cồn trong máu [1], [45] - 20 - 90 mg/dl: thay đổi tâm trạng, hành động không thích hợp, phối hợp kém, chậm thời gian phản ứng, giảm đáp ứng với đau.
- 100 - 190 mg/dl: thiếu sự phối hợp, thời gian phản ứng chậm, phán đoán kém, khó khăn trong việc đi bộ và đứng vững, khả năng cảm giác bị biến đổi, thay đổi nhân cách và hành vi. - 200 - 290 mg/dl: đi đứng loạng choạng, nôn, rối loạn ý thức. - 300 - 390 mg/dl: nhiễm độc nghiêm trọng, hạ thân nhiệt, rối loạn ý thức. - Từ 400 mg/dl trở lên: ngộ độc rượu, hôn mê, nguy cơ tử vong khoảng 50%.
Sự trao đổi chất của rượu khác nhau đối với nam và nữ; ngoài ra còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác (có bệnh lý đi kèm, liên quan đến bữa ăn, loại thức ăn sử dụng,…). Rượu được chuyển hóa trong cơ thể gần như ngay sau khi được tiêu thụ và tăng rất cao sau 1 giờ. Tốc độ thải trừ rượu cũng thay đ ổi tùy theo từng cơ 6 địa, thường được thải trừ sau 4 đến 5 giờ; nói chung, một người có lá gan khỏe mạnh thì nồng độ cồn/máu giảm khoảng 15 mg/dl mỗi giờ [1], [45]. Các quy định liên quan đến sử dụng rượu bia và TNGTĐB Điều 8, Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 quy định các hành vi bị nghiêm cấm: - Điều khiển ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
- Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 mg/100 ml máu hoặc 0,25 mg/1 lít khí thở [18]. Nghị định số 171/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 thay cho Nghị định số 71/2012/NĐ-CP và Nghị định số 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đã tăng m ức phạt tiền đối với các trường hợp vi phạm về SDRB khi tham gia giao thông lên 2 đến 4 lần [6], [7], [8]. Ngày 23/3/2010 Bộ Y tế ban hành Quy định về đo nồng độ cồn trong máu áp dụng trong các bệnh viện kèm theo Quyết định số 933/QĐ-BYT. Đối tượng xét nghiệm là bệnh nhân TNGT nhập viện.
Mục đích giúp xác định nồng độ cồn trong máu phục vụ cho việc xác định nguyên nhân TNGT do có sử dụng rượu, bia và nước uống có cồn [4]. Việc xét nghiệm nồng độ cồn/máu của bệnh nhân TNGT tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tuân theo hướng dẫn của quy định này. Thông tư liên tịch số 39/2011/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn thủ tục thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người tham gia BHYT bị TNGT có hiệu lực thi hành từ ngày 26/12/2011. Thông tư quy định người tham gia BHYT bị TNGTĐB khi có đủ căn cứ xác định nguyên nhân tai nạn là do vi phạm luật giao thông đường bộ thì không đư ợc hưởng chế độ BHYT khi khám, chữa bệnh [3].
Rượu bia và ảnh hưởng của rượu bia đến TNGTĐB 1. Thông tin về rượu bia Theo các nhà khoa học, chất cồn khi vào cơ thể sẽ được hấp thụ trên toàn tuyến tiêu hóa, s au đó đi thẳng vào máu và phân tán đến các bộ phận khác; c ồn làm 7 giãn các mạch máu, do đó người uống có cảm giác ấm khi uống vào. Cồn khá phổ biến trong nhiều loại thức uống quen thuộc, kể cả trong sữa chua lên men cũng chứa nồng độ cồn tối đa khoảng 3%. C ồn hiện diện nhiều trong các loại thức uống có men cay với nồng độ tăng dần như bia (1 - 12%), kế đến là các loại rượu vang (7 - 14%), các loại rượu mùi có nồng độ cồn thường dưới 30%, và cao nhất thuộc về các loại rượu mạnh chế biến từ trái cây, ngũ cốc ( 30 - 55%).
Nhiều công trình nghiên cứu y học đã khẳng định nếu sử dụng thức uống có cồn nói chung hay rượu, bia nói riêng ở mức độ vừa phải sẽ có lợi cho sức khỏe nhờ các thành phần sẵn có trong rượu, bia giúp tiêu hóa tốt, phòng ngừa các bệnh tim mạch. Tu y nhiên, nếu uống quá mức trung bình sẽ có hại cho sức khỏe [34]. Theo Viện Quốc gia về Lạm dụng rượu và Nghiện rượu (NIAAA), mức độ SDRB được định nghĩa như sau: - Mức độ vừa phải: Nam uống nhiều nhất 2 ly/ngày; Nữ uống nhiều nhất 1 ly/ngày; Trên 65 tuổi uống nhiều nhất 1 ly/ngày. - Mức độ nguy cơ: Nam uống trên 14 ly/tuần hoặc trên 4 ly/dịp; Nữ uống trên 7 ly/tuần hoặc trên 3 ly/dịp [47].
Lạm dụng thức uống có cồn nói chung và rượu, bia nói riêng gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sứ c khoẻ và trật tự an toàn xã hội. Rượu, bia đứng hàng thứ 5 trong 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên toàn cầu. Thống kê của TCYTTG cho thấy rượu, bia có liên quan đến 3,2% tổng số tử vong trên th ế giới và 4% người mắc bệnh có liên quan đến rượu, bia (58,3 triệu người/năm). Theo Viện Chiến lược và Chính sách y tế, có 4,4% người dân Việt Nam phải gánh chịu bệnh tật do hậu quả của rượu, bia mang lại.
Xu hướng này đang ngày càng gia tăng đáng lo ngại trong giới trẻ. Phí tổn do rượu, bia (bao gồm cả việc sử dụng và giải quyết hậu quả do rượu, bia gây ra) thường chiếm từ 2 - 8% GDP của quốc gia. Số liệu của Bộ Công thương công bố vào tháng 7/2012 cho thấy mức tiêu thụ bia bình quân đầu người của Việt Nam năm 2010 là 30,3 lít, gấp 2 lần số lượng tiêu thụ năm 2006. Ước tính mỗi năm Việt Nam tiêu tốn khoảng 291,72 triệu USD vào rượu , bia [34].
8 Cho đến nay, chưa có quy ước chung giữa các quốc gia về t iêu chuẩn một đơn vị rượu , thường chứa từ 8 - 14 gram ethanol nguyên chất; trong đó, tiêu chuẩn một đơn vị rượu ch ứa 10 gram ethanol được nhiều quốc gia sử dụng nhất [45]. Ảnh hưởng của rượu bia đến TNGTĐB Lái xe đòi hỏi nhiều kỹ năng có thể thay đổi liên tục. Một người lái xe phải duy trì sự tỉnh táo và có thể phản ứng nhanh với các mối nguy hiểm, nhìn thấy rõ ràng, có khả năng đánh giá khoảng cách và tốc độ. Uống rượu lái xe làm giảm một số kỹ năng cần thiết cho an toàn lái xe cơ giới và làm tăng nguy cơ tai nạn.
Khi người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ uống rượu, bia hoặc các chất có cồ n thì khoảng 6 phút sau khi uống hệ thần kinh hưng phấn, ảo thị, ảo thính, làm giảm khả năng điều khiển tự chủ và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xử lý và truyền tải hình ảnh lên não. Nồng độ cồn/máu từ 160 - 200 mg/dl thì phản xạ đã giảm, phản ứng của lái xe giảm từ 10 - 30%.