ĐẶT VẤN ĐỀ Kể từ khi Việt Nam phê chuẩn Công ƣớc Quyền trẻ em của Liên hợp quốc (năm 1990) và ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 1991) tới nay công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em ở nƣớc ta đã đạt đƣợc nhiều kết quả, góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với lĩnh vực này. Tỷ lệ tử vong của trẻ dƣới 5 tuổi, trẻ nhỏ và tỷ lệ suy dinh dƣỡng ở nƣớc ta đều đang giảm và đang trên lộ trình đạt tới Mục tiêu Phát triển Thiên Niên kỷ (MDG). Trên toàn quốc, tỷ suất tử vong trẻ em dƣới 5 tuổi đã giảm hơn một nửa từ 58‰ năm 1990 xuống còn 23,1‰ năm 2013[38]. Tỷ suất tử vong trẻ em dƣới 1 tuổi cũng đã giảm gần 2/3, từ 44,4‰ năm 1990 xuống còn 15,4‰ năm 2012 [38].
Tuy nhiên, sau hơn 20 năm thực hiện các chƣơng trình hành động quốc gia vì trẻ em, bên cạnh nhiều thành tựu đáng ghi nhận vẫn còn tồn tại nhiều thách thức trong công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em. Một trong những vấn đề thách thức nổi bật hiện nay là sự bất công bằng trong tiếp cận và chất lƣợng chăm sóc sức khỏe giữa các vùng [45]. Theo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2011 (MICS 4) cho thấy tỷ suất tử vong của trẻ em dân tộc thiểu số cao gấp 3 lần so với dân tộc Kinh/Hoa [37]. Trung du và miền núi phía Bắc; Tây Nguyên, hai vùng khó khăn nhất của nƣớc ta, tỷ suất chết trẻ em dƣới 5 tuổi vẫn còn khá cao, tƣơng ứng là 35,2‰ và 39,8‰ năm 2013 [37].
Điện Biên là một tỉnh miền núi phía Bắc với hơn 1/3 dân số là hộ nghèo, trong đó huyện Tủa Chùa có tỷ lệ hộ nghèo cao thứ 2 trên toàn tỉnh (51,6%) và khoảng 70% dân số là ngƣời dân tộc H’mông [43]. Theo số liệu thống kê đến hết tháng 10/2014 tỷ suất tử vong trẻ em dƣới 5 tuổi là 57,3‰, cao hơn rất nhiều so với toàn tỉnh Điện Biên và trên cả nƣớc. Bên cạnh đó, tỷ lệ trẻ dƣới 5 tuổi bị suy dinh dƣỡng (SDD) cân nặng/tuổi vẫn ở mức cao 21,2% [40]. Huyện Tủa Chùa là một trong những huyện có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nhất của tỉnh Điện Biên, cách xa trung tâm thành phố (160km).
Trong bối cảnh đó, hoạt động chăm sóc sức khỏe của ngành y tế huyện cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em dƣới 6 tuổi. Những đặc điểm này của huyện đã ảnh hƣởng đến 2 khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) cho trẻ em đặc biệt là trẻ dƣới 6 tuổi. Nhiều nghiên cứu về thực trạng sử dụng dịch vụ KCB của ngƣời dân tại các cơ sở y tế (CSYT) nói chung đã đƣợc triển khai, tuy nhiên chƣa có nhiều nghiên cứu về thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và các yếu tố liên quan cho trẻ em dƣới 6 tuổi tại những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Trong khi đó, trẻ em sống ở những vùng nông thôn miền núi là những đối tƣợng nhạy cảm về sức khỏe và bị hạn chế các cơ hội đƣợc tiếp xúc với các dịch vụ KCB có chất lƣợng và cần đƣợc quan tâm nhiều hơn.
Với những lý do trên đây, nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho cho trẻ dưới 6 tuổi dân tộc H’Mông tại 3 xã của huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên năm 2015” đƣợc thực hiện nhằm cung cấp thêm bằng chứng về tình hình sức khỏe và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dƣới 6 tuổi tại địa bàn nghiên cứu, làm cơ sở cho khuyến nghị tăng cƣờng chăm sóc sức khỏe trẻ em của huyện. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này nhằm những mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ trẻ dƣới 6 tuổi dân tộc H’Mông bị ốm trong 4 tuần trƣớc điều tra tại 3 xã của huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, năm 2015. Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dƣới 6 tuổi dân tộc H’Mông tại 3 xã của huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, năm 2015.
Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dƣới 6 tuổi dân tộc H’Mông tại 3 xã của huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, năm 2015. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sức khỏe trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tình hình sức khỏe trẻ em trên thế giới Trẻ em luôn là đối tƣợng đƣợc quan tâm, bảo vệ, dù ở bất cứ quốc gia nào, trong bất cứ môi trƣờng nào.
Công ƣớc quốc tế về Quyền trẻ em ký kết vào năm 1989, trải qua 25 năm thực hiện, đã góp phần bảo vệ và nâng cao điều kiện sống cũng nhƣ các quyền cơ bản của trẻ em trên toàn cầu. Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia đang phát triển, một bộ phận không nhỏ trẻ em vẫn đang chịu nhiều thiệt thòi, đặc biệt là về y tế, giáo dục và dinh dƣỡng. Theo “Báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2015: Hình dung mới về tƣơng lai – Đổi mới sáng tạo cho mọi trẻ em” do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) vừa công bố, 51% trẻ em ở các nƣớc nghèo không đƣợc đăng ký khai sinh, 40% trẻ em các nƣớc nghèo không đƣợc đi học, và khoảng 65% trẻ em trên thế giới không đƣợc tiếp cận nƣớc sạch [48]. Sức khỏe trẻ em đã và đang đƣợc cải thiện đáng kể ở hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới.
Theo báo cáo “Mức độ và xu hƣớng tử vong trẻ em năm 2014” chỉ ra rằng, tử vong trẻ em dƣới 5 tuổi trên toàn cầu đã giảm từ 12,7 triệu (12,5-12,9) năm 1990 xuống 6,3 triệu (6,1-6,7) năm 2013, tƣơng đƣơng với 17.000 trẻ tử vong mỗi ngày [63]. Tuy nhiên bên cạnh tín hiệu đáng mừng đó là sự khác biệt quá lớn về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe trẻ em ở các nƣớc phát triển và đang phát triển, giữa các khu vực và vùng miền trên toàn thế giới. Trong năm 2013, tỷ lệ tử vong trẻ dƣới 5 tuổi ở các nƣớc có thu nhập thấp là 76/1000 trƣờng hợp,cao hơn 12 lần mức trung bình ở các nƣớc có thu nhập cao. Tỷ lệ tử vong ở trẻ dƣới 5 tuổi vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực cận Sahara Châu Phi và Nam Á, đặc biệt tỷ lệ này ở khu vực cận Sahara Châu Phi cao gấp 15 lần so với các khu vực phát triển [67].
Điều đáng lƣu ý một nửa số ca tử vong trẻ dƣới 5 tuổi trên toàn cầu vẫn tập trung ở 05 quốc gia: Ấn Độ, Nigeria, Pakistan, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Cônggô, Trung Quốc, trong đó Ấn Độ (21%) và Nigeria (13%) chiếm 1/3 số trẻ em dƣới 5 tuổi tử vong trên toàn thế giới. Các nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở trẻ em dƣới 5 tuổi bao gồm biến chứng sinh non (17%), viêm phổi (15%), các biến chứng liên quan đến chuyển dạ (11%), tiêu chảy (9%) và sốt rét (7%). Suy dinh dƣỡng là yếu tố cơ bản gây ra 45% 5 các ca tử vong ở trẻ em [63]. Tuy nhiên, hơn một nửa số tử vong trẻ em dƣới 5 tuổi là do các bệnh có thể điều trị đƣợc thông qua các can thiệp đơn giản và giá cả phải chăng.
Trong khi tử vong trẻ dƣới 5 tuổi đã giảm một cách đáng kể trong thập kỷ qua thì tử vong trẻ sơ sinh giảm với tốc độ chậm hơn. Tính trên toàn cầu, tử vong trẻ sơ sinh giảm từ 4,7 triệu năm 1990 (33/1000) xuống 2,8 triệu năm 2013 (20/1000). Tử vong trẻ sơ sinh chiếm khoảng 3/4 tử vong trẻ dƣới 1 tuổi và khoảng gần một nửa số tử vong trẻ dƣới 5 tuổi. Hầu hết các tử vong ở giai đoạn sơ sinh liên quan đến các bệnh nhiễm khuẩn đặc biệt là viêm phổi, ỉa chảy, nhiễm khuẩn rốn, uốn ván rốn.
Tai biến trong cuộc đẻ cũng liên quan đến nhiều tử vong ở giai đoạn sơ sinh nhƣ ngạt, chấn thƣơng khi đẻ, đẻ non, cân nặng thấp. Điều đáng chú ý là có tới một nửa số ca tử vong xảy ra trong vòng 24 giờ đầu tiên của cuộc sống và 75% xảy ra trong tuần lễ đầu của cuộc đời [67]. Tại khu vực Tây Thái Bình Dƣơng, tỷ lệ tử vong trẻ dƣới 5 tuổi đã giảm xuống 69% từ năm 1990 đến 2012. Tử vong sơ sinh chiếm tỷ lệ ngày càng tăng so với tỷ lệ tử vong trẻ em nói chung (54% trong năm 2010).
Cứ 2 phút lại có một trẻ sơ sinh tử vong và hàng năm có khoảng 231,000 trẻ sơ sinh tử vong ở khu vực này. Tử vong tập trung ở nhóm nghèo, ở vùng nông thôn và nhóm khó khăn là những ít có khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế có chất lƣợng [66]. Tình hình sức khỏe trẻ em tại Việt Nam Kể từ khi Việt Nam phê chuẩn Công ƣớc về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc (năm 1990) và ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 1991) tới nay, công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em ở nƣớc ta đã đạt đƣợc nhiều kết quả, góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với lĩnh vực này. Tỷ lệ tử vong của trẻ dƣới 5 tuổi, trẻ nhỏ và tỷ lệ suy dinh dƣỡng ở nƣớc ta đều đang giảm và đang trên lộ trình đạt tới Mục tiêu Phát triển Thiên Niên kỷ (MDG).
Trên toàn quốc, tỷ suất tử vong trẻ em dƣới 5 tuổi đã giảm hơn một nửa từ 58‰ năm 1990 xuống còn 23,1‰ năm 2013[38]. Tỷ suất tử vong trẻ em dƣới 1 tuổi cũng đã giảm gần 2/3, từ 44,4‰ năm 1990 xuống còn 15,4‰ năm 2012 [38]. 6 Một trong các chỉ tiêu thuộc MDG số 1 về giảm đói nghèo là giảm tỷ lệ suy dinh dƣỡng ở trẻ em dƣới 5 tuổi từ 41% năm 1990 xuống còn 20,5% vào năm 2015. Theo thống kê hàng năm của Viện Dinh dƣỡng, tỷ lệ suy dinh dƣỡng thể nhẹ cân dƣới 5 tuổi đã giảm 7,2% trong giai đoạn 1990-2000 ( từ 41% xuống còn 33,8%) và giảm 16.3% trong giai đoạn 2000-2010 (từ 33,8% xuống còn 17,5%).
Năm 2014, tỷ lệ suy dinh dƣỡng thể nhẹ cân ở trẻ dƣới 5 tuổi đã giảm xuống mức 14,5% [47]. Tình trạng trẻ dƣới 5 tuổi nhẹ cân đã đƣợc cải thiện rõ nét nhất trong khoảng từ năm 2000 đến 2010 ở khu vực Nam Trung Bộ (giảm 47%), tiếp đến là khu vực đồng bằng sông Hồng (giảm 46%), khu vực Đông Nam (giảm 46%).