Tổng quan nghiên cứu

Trên phạm vi toàn cầu, quá trình phát triển năng lượng đã ghi nhận hơn 45.000 đập thủy điện quy mô lớn được xây dựng tại 140 quốc gia, kéo theo việc di dời từ 40 đến 80 triệu người. Tại Việt Nam, hệ thống thủy điện đóng góp hơn 35% tổng sản lượng điện quốc gia nhưng cũng đặt ra bài toán an sinh xã hội phức tạp khi khiến khoảng 300.000 người phải rời bỏ nơi cư trú truyền thống. Đáng chú ý, các báo cáo độc lập cho thấy hơn 82% người dân bị di dời có điều kiện sống suy giảm nghiêm trọng sau khi chuyển đến nơi ở mới.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của luận văn tập trung vào những đứt gãy sinh kế và bất cập trong quản lý quỹ đất tại khu tái định cư Thủy điện Bình Điền. Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng biến động quỹ đất sản xuất và sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số trước và sau khi di chuyển, từ đó xác lập luận cứ khoa học để đề xuất phương án phân bổ đất đai hợp lý. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại thôn Bồ Hòn, xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế với dữ liệu khảo sát thu thập từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017, phản ánh bức tranh sinh kế toàn diện của cộng đồng người Cơ Tu trong giai đoạn 10 năm hậu tái định cư từ năm 2006 đến năm 2017.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa cụ thể biến động các nguồn vốn sinh kế trên cỡ mẫu 38 hộ điều tra trong tổng số 62 hộ dân toàn thôn. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị cho các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương trong việc xây dựng chính sách cấp bù tối thiểu 1,0 ha đất sản xuất nông nghiệp cho mỗi hộ dân, góp phần giải quyết nguy cơ nghèo đói kéo dài tại các vùng di dân lòng hồ miền Trung.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) do Robert Chambers và Gordon Conway khởi xướng năm 1992, được hoàn thiện bởi Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh. Khung phân tích này đặt trọng tâm vào 5 nguồn vốn sinh kế cơ bản của hộ gia đình: nguồn vốn tự nhiên (đất đai, rừng, nguồn nước), nguồn vốn vật chất (nhà ở, hạ tầng giao thông, thủy lợi), nguồn vốn tài chính (thu nhập, tích lũy, tiếp cận tín dụng), nguồn vốn con người (trình độ văn hóa, kỹ năng lao động, sức khỏe) và nguồn vốn xã hội (mối quan hệ dòng tộc, sự hỗ trợ từ cộng đồng và thể chế).

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp Lý thuyết về tái định cư bắt buộc và mô hình rủi ro bần cùng hóa của Thayer Scudder cùng chính sách an toàn xã hội Operational Directive 4.30 của Ngân hàng Thế giới. Lý thuyết này chỉ rõ việc mất tư liệu sản xuất và mất quyền tiếp cận tài nguyên chung là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới 8 rủi ro lớn đối với người di dân, đặc biệt là tình trạng mất an ninh lương thực và bên lề hóa xã hội.

Hệ thống khái niệm nền tảng trong nghiên cứu bao gồm: Tái định cư bắt buộc (quá trình di chuyển dân cư do nhà nước thu hồi đất để phục vụ lợi ích công cộng), Sinh kế bền vững (khả năng ứng phó, phục hồi của hộ dân trước các cú sốc mà không làm suy thoái tài nguyên), Loại hình sử dụng đất (các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp cụ thể trên từng đơn vị đất đai) và Đơn vị bản đồ đất đai.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo quy hoạch, số liệu thống kê kinh tế xã hội của Ủy ban nhân dân xã Bình Thành, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế và Công ty Cổ phần Thủy điện Bình Điền.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra thực địa tại thôn Bồ Hòn với tổng thể là 62 hộ dân tộc Cơ Tu. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên Slovin năm 1960 với mức sai số cho phép e bằng 10%: n = N chia cho (1 + N nhân e bình phương), tương ứng 62 chia cho (1 + 62 nhân 0,01), cho kết quả mẫu nghiên cứu là 38 hộ (chiếm 61,3% tổng số hộ của thôn). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng để phỏng vấn trực tiếp chủ hộ bằng bảng hỏi cấu trúc, kết hợp phỏng vấn sâu 8 cá nhân tiêu biểu và thảo luận nhóm chuyên gia gồm già làng, trưởng thôn và cán bộ địa chính xã.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả và so sánh định lượng trên phần mềm Microsoft Excel là nhằm đo lường chính xác các chỉ số thay đổi về diện tích đất canh tác, cơ cấu thu nhập và mức độ tiếp cận dịch vụ công của hộ gia đình qua các mốc thời gian. Timeline nghiên cứu được thực hiện tập trung từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017, bảo đảm tính xác thực và độ tin cậy cao của dữ liệu điều tra xã hội học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự suy giảm nghiêm trọng về quy mô và chất lượng đất sản xuất nông nghiệp. Khu tái định cư thôn Bồ Hòn được xây dựng trên diện tích 35 ha với tổng mức đầu tư trên 7 tỷ đồng cho 46 hộ dân ban đầu (225 nhân khẩu), mỗi căn nhà được hỗ trợ 64 triệu đồng. Tuy nhiên, mỗi hộ chỉ được phân bổ 400 m2 đất ở kết hợp đất vườn, thấp hơn nhiều so với hạn mức 800 đến 1.000 m2 tại một số dự án thủy điện khác. Đất canh tác nông nghiệp được giao nằm trên địa hình đồi dốc từ 20 đến 25 độ, tầng đất mặt mỏng, cằn cỗi và nhiều sỏi đá, hoàn toàn không thích hợp với các giống cây lương thực truyền thống như lúa nương, ngô và sắn bản địa.

Thứ hai, nguồn vốn tự nhiên bị thu hẹp làm đứt gãy hoạt động chăn nuôi truyền thống. Toàn bộ 100% hộ dân khảo sát bị mất hoàn toàn bãi chăn thả gia súc tự nhiên ven sông Hữu Trạch. Điều này khiến số lượng hộ tham gia chăn nuôi trâu, bò sụt giảm hơn 70% so với trước khi chuyển về nơi ở mới. Người dân cũng mất quyền tiếp cận các nguồn lâm sản phụ dưới tán rừng tự nhiên và nguồn lợi thủy sản, vốn là nguồn cung cấp thực phẩm và thu nhập phụ trợ quan trọng trước năm 2006.

Thứ ba, cơ cấu sinh kế chuyển dịch tiêu cực dẫn đến mất an ninh lương thực. Do thiếu đất trồng trọt, hơn 80% lao động chính trong gia đình phải chuyển sang làm thuê thời vụ với thu nhập bấp bênh hoặc trồng keo lai chu kỳ dài. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng các hộ dân phải dùng tới 75% tổng thu nhập kiếm được để mua lương thực ngoài thị trường, trong khi trước đây họ hoàn toàn tự chủ được nguồn lương thực tại chỗ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ việc lập quy hoạch khu tái định cư mang tính cơ học, chỉ tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông và nhà ở xây sẵn mà chưa chuẩn bị chu đáo quỹ đất sản xuất nông nghiệp trước khi di chuyển dân. Việc thiếu các nghiên cứu kỹ lưỡng về tập quán canh tác "phá, đốt, cốt, tỉa" của đồng bào Cơ Tu đã tạo ra khoảng cách lớn giữa chính sách hỗ trợ và nhu cầu thực tế.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Scudder khi chỉ ra rằng 82% trường hợp tái định cư thủy điện làm suy giảm mức sống của người dân do mất tư liệu sản xuất. Báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế cũng ghi nhận tại xã Bình Thành có tới 75% số hộ tái định cư thuộc diện nghèo do thiếu việc làm và đất đai cằn cỗi. Các chương trình hỗ trợ cây giống như chuối, cam thanh trà, xoài hay măng trúc điền đưa vào khu tái định cư hầu hết đều thất bại do thiếu nước tưới trong mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8.

Để minh họa rõ nét các phát hiện này, dữ liệu biến động sinh kế có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua Biểu đồ cột chồng so sánh cơ cấu 5 nguồn vốn sinh kế trước và sau tái định cư, kết hợp Bảng ma trận chuyển dịch cơ cấu thu nhập của 38 hộ điều tra nhằm làm nổi bật sự sụt giảm nguồn thu từ nông nghiệp tự cung tự cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và bàn giao bổ sung quỹ đất sản xuất nông nghiệp. Ủy ban nhân dân thị xã Hương Trà chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành thu hồi diện tích đất lâm nghiệp sử dụng kém hiệu quả từ các ban quản lý rừng phòng hộ và lâm trường lân cận, thực hiện cấp bổ sung từ 1,0 đến 1,5 ha đất sản xuất cho mỗi hộ gia đình trong tổng số 62 hộ thôn Bồ Hòn, hoàn thành dứt điểm trước quý IV năm 2018.

Thứ hai, cung ứng nguồn vốn tín dụng chính sách ưu đãi và chuyển giao kỹ thuật canh tác. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hương Trà phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh triển khai gói tín dụng phục hồi sinh kế với lãi suất ưu đãi dưới 5% mỗi năm, hạn mức vay từ 50 đến 100 triệu đồng mỗi hộ; đồng thời tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng rừng thâm canh gỗ lớn và mô hình chăn nuôi gia súc có chuồng trại cho 100% hộ dân trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ ba, thiết lập chuỗi liên kết bao tiêu nông lâm sản bền vững. Ủy ban nhân dân xã Bình Thành đóng vai trò đầu mối ký kết hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm giữa các hộ trồng sắn, trồng rừng kinh tế với Nhà máy tinh bột sắn và các cơ sở chế biến gỗ dăm trên địa bàn, bảo đảm ổn định đầu ra cho 100% sản lượng nông sản của địa phương từ năm 2019.

Thứ tư, nâng cấp công trình cấp nước và hỗ trợ đào tạo nghề chuyển đổi việc làm. Công ty Cổ phần Thủy điện Bình Điền có trách nhiệm trích từ 1,5% đến 2,0% doanh thu hàng năm để đầu tư hoàn thiện trạm bơm và hệ thống mương dẫn nước tưới tự chảy phục vụ sản xuất; đồng thời tài trợ kinh phí đào tạo nghề phi nông nghiệp miễn phí cho trên 80% lao động trẻ dưới 30 tuổi tại thôn Bồ Hòn trong giai đoạn 2018 - 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước thuộc ngành Tài nguyên Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Luận văn cung cấp bằng chứng thực tiễn sâu sắc để các cơ quan này hoàn thiện quy trình thẩm định quy hoạch sử dụng đất và xây dựng khung bồi thường, hỗ trợ di dân tái định cư cho các dự án thủy điện, thủy lợi quy mô lớn.

Nhóm thứ hai là chủ đầu tư các dự án năng lượng và ban quản lý dự án tái định cư. Các đơn vị này có thể khai thác tài liệu để thiết lập phương án bố trí ngân sách đền bù toàn diện, dự trù kinh phí hỗ trợ sản xuất trong chu kỳ tối thiểu 10 năm và triển khai các mô hình hạ tầng phù hợp với tập quán văn hóa của đồng bào thiểu số.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý đất đai, Phát triển nông thôn, Kinh tế tài nguyên và Xã hội học. Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp công thức chọn mẫu Slovin và Khung phân tích sinh kế bền vững trong nghiên cứu biến động tài nguyên đất.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức phát triển quốc tế đang hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ cộng đồng yếu thế và an ninh lương thực. Dữ liệu thực địa từ 38 hộ dân là nguồn tư liệu quý để thiết kế các dự án can thiệp sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến người dân tái định cư Thủy điện Bình Điền gặp khó khăn về kinh tế là gì? Nguyên nhân cốt lõi là do thiếu đất canh tác màu mỡ. Tại nơi ở mới, 46 hộ dân ban đầu chỉ được cấp 400 m2 đất ở và đất vườn trên nền địa hình đồi núi dốc từ 20 đến 25 độ nhiều sỏi đá. Việc mất toàn bộ đất lúa nương và bãi chăn thả khiến người dân mất nguồn tự túc lương thực và suy giảm hơn 70% đàn gia súc.

Khu tái định cư thôn Bồ Hòn được đầu tư với quy mô và ngân sách như thế nào? Khu tái định cư Bồ Hòn có quy mô quy hoạch 35 ha do Công ty Cổ phần Thủy điện Bình Điền làm chủ đầu tư với tổng kinh phí xây dựng trên 7 tỷ đồng. Dự án đã hoàn thành hệ thống điện, đường, trường tiểu học, trạm cấp nước và bàn giao 46 căn nhà kiên cố trị giá 64 triệu đồng mỗi căn cho 225 nhân khẩu dân tộc Cơ Tu.

Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu nghiên cứu như thế nào? Tác giả áp dụng công thức Slovin năm 1960 với mức sai số 10% trên tổng thể 62 hộ dân của thôn Bồ Hòn để chọn ra cỡ mẫu chuẩn gồm 38 hộ điều tra ngẫu nhiên. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu phỏng vấn cấu trúc, kết hợp phỏng vấn sâu 8 hộ dân và tham vấn ý kiến chuyên gia lãnh đạo địa phương.

Tại sao các dự án đưa cây ăn quả vào khu tái định cư trước đây không đạt hiệu quả? Các mô hình trồng cam thanh trà, chuối, xoài và măng trúc điền đều bị thất bại do đất đai khu vực này có tầng canh tác mỏng, bạc màu và thiếu nguồn nước tưới nghiêm trọng trong mùa khô hạn kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8 hàng năm. Cây trồng không thích nghi được với điều kiện thổ nhưỡng khắc nghiệt nên bị chết khô.

Giải pháp mang tính đột phá nhất để khôi phục sinh kế cho người dân thôn Bồ Hòn là gì? Giải pháp đột phá hàng đầu là chính quyền địa phương phải thu hồi và điều chỉnh quy hoạch quỹ đất lâm nghiệp kém hiệu quả để cấp bù tối thiểu 1,0 ha đất sản xuất cho mỗi hộ dân. Đi kèm với đó là gói vay tín dụng ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng mỗi hộ để phát triển trồng rừng gỗ lớn và chăn nuôi nhốt chuồng.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện thực trạng sử dụng đất và biến động sinh kế của 38 hộ dân tộc Cơ Tu đại diện cho 62 hộ dân tại khu tái định cư thôn Bồ Hòn sau 10 năm di dời xây dựng Thủy điện Bình Điền.
  • Công trình chứng minh việc thiếu hụt đất sản xuất (mỗi hộ chỉ có 400 m2 đất ở) và mất bãi chăn thả tự nhiên là nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm an ninh lương thực và giảm trên 70% đàn đại gia súc.
  • Kết quả nghiên cứu khẳng định hạ tầng vật chất trị giá trên 7 tỷ đồng tại khu tái định cư 35 ha chưa thể bảo đảm sinh kế bền vững nếu thiếu chiến lược phân bổ tư liệu sản xuất nông lâm nghiệp dài hạn.
  • Đề tài đã đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với lộ trình thực hiện từ năm 2018 đến năm 2022 nhằm cấp bổ sung tối thiểu 1,0 ha đất sản xuất/hộ và chuyển đổi nghề cho hơn 80% thanh niên.
  • Luận văn đóng góp cơ sở khoa học thực tiễn vững chắc cho việc hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư công bằng tại tỉnh Thừa Thiên Huế và khu vực miền Trung.

Để giải quyết triệt để bài toán an sinh vùng lòng hồ, các cấp chính quyền địa phương, cơ quan quản lý và chủ đầu tư cần nhanh chóng xem xét, triển khai các khuyến nghị về quy hoạch đất đai và tín dụng sinh kế của luận văn vào thực tiễn quản lý ngay trong giai đoạn tới.