Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về stress và stress nghề nghiệp 1. Tổng quan về stress Khái niệm về stress Khái niệm về stress đã được nghiên cứu trong nhiều năm. Trong lĩnh vực nghiên cứu về stress, hai nhà lý thuyết tiên phong là Hans Selye và Richard Lazarus.
Theo Lazarus, stress là một quá trình hai chiều, nó liên quan đến việc sản xuất các yếu tố gây stress bởi môi trường và phản ứng của một cá nhân chịu các tác nhân gây stress này [26]. Selye định nghĩa stress là một trạng thái biểu hiện bằng một hội chứng bao gồm tất cả những thay đổi không đặc hiệu gây ra trong một hệ thống sinh học [45]. Mặc dù cách tiếp cận khác nhau trong lĩnh vực nghiên cứu stress, nhưng hai nhà lý thuyết Hans Selye và Richard S. Lazarus đều đề cập đến điểm chung đó là stress xảy ra khi các tác nhân tác động lên và làm con người có những phản ứng đáp ứng lại.
Khái niệm stress được các nhà tâm lý học Việt Nam định là những yếu tố bất lợi bên ngoài kích thích tác động mạnh vào con người. Nó là phản ứng sinh lý và tâm lý của con người khi đối phó với những tác động đó. Stress bình thường góp phần giúp con người thích nghi với môi trường sống khi đặt con người vào quá trình thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một trạng thái cân bằng mới. Tuy nhiên nếu sự đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không phù hợp thì cơ thể ít nhiều bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý về thể chất và tâm lý của con người sẽ xuất hiện [10].
Cơ chế gây stress Giai đoạn bắt đầu Stress gây ra báo động trong não và cơ thể phản ứng lại bằng cách chuẩn bị hàng rào phòng thủ. Hệ thống thần kinh được kích thích và các hormone được giải phóng làm mạch nhanh, hô hấp sâu và căng cơ [34]. Giai đoạn hai bắt đầu khi stress tiếp tục kích thích. Trong giai đoạn này, các triệu chứng của 5 phản ứng báo động biến mất, điều này cho thấy sự thích nghi của cơ thể với tác nhân gây stress.
Cơ thể huy động các nguồn lực để đạt được trạng thái cân bằng bất chấp sựu hiện diện của tác nhân gây stress [43]. Giai đoạn cuối là suy kiệt khi các tác nhân gây stress không được giải quyết, cơ thể luôn trong trạng thái kích hoạt, điều này gây quá tải đến hệ thống sinh học. Cuối cùng là các triệu chứng của giai đoạn đầu xuất hiện trở lại khiến cơ thể mệt mỏi và thương tổn [34],[43]. Nguyên nhân gây stress Có rất nhiều nguồn gây stress.
Stress có thể là kết quả của các tác nhân gây stress về thể chất, tâm lý và xã hội. Các tác nhân gây stress là tác nhân kích thích làm mất trạng thái cân bằng của cơ thể. Các yếu tố gây stress có thể là cả bên trong và bên ngoài. Các yếu tố gây stress bên ngoài bao gồm các tình trạng thể chất bất lợi như đau hoặc nhiệt độ nóng hoặc lạnh hoặc môi trường tâm lý stress như điều kiện làm việc kém hoặc lạm dụng các mối quan hệ.
Các yếu tố gây stress bên trong bao gồm nhiễm trùng hoặc các tác nhân gây stress tâm lý. Các tác nhân gây stress về tâm lý và xã hội thường chủ quan hơn là stress về thể chất [43].2 Khái niệm về stress nghề nghiệp Trên thế giới, stress nghề nghiệp được định nghĩa là một tình huống trong đó các yếu tố liên quan đến công việc tương tác với một nhân viên, những yếu tố đó làm thay đổi tâm lý và sinh lý theo cách mà người đó bị buộc phải đi chệch hướng từ hoạt động bình thường [40]. Stress nghề nghiệp được CDC định nghĩa là các phản ứng có hại về thể chất và cảm xúc xảy ra khi các yêu cầu của công việc không phù hợp với khả năng, nguồn lực hoặc nhu cầu của người lao động [34]. Stress nghề nghiệp còn được hiểu là sự tương tác giữa môi trường công việc với đặc điểm của nhân viên, yêu cầu công việc thêm và những áp lực khiến người đó không thể làm nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả [33].
Biểu hiện/ dấu hiệu của stress nghề nghiệp Stress là một kích thích tác động mạnh vào con người, là phản ứng sinh lý và tâm lý của con người đối với tác động đó. Nếu sự đáp ứng của cá nhân đối với 6 stress không đầy đủ, không phù hợp và cơ thể không tạo nên một sự cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rối loạn, biểu hiện ra bên ngoài với những dấu hiệu về thể chất và tâm lý [10]. Về mặt tâm lý, khi bị stress con người cảm thấy mệt mỏi, chán nản, lo lắng, có thể gây khó ngủ và thường xuyên cáu gắt với người xung quanh. Người bị stress khó thể thư giãn hay tập trung vào một việc gì đấy dẫn đến khó suy nghĩ logic và đưa ra quyết định chính xác.
Đồng thời người bị stress cũng cảm thấy chán nản với công việc và không muốn gắn bó với công việc đang làm [46]. Khi bị stress nghề nghiệp, ngoài những biểu hiện về tâm lý, con người cũng biểu hiện một số dấu hiệu về mặt thể chất. Đó là những biểu hiện về bệnh tim như hồi hộp trống ngực, loạn nhịp tim. Người bị stress thấy đau đầu, có thể có tăng huyết áp.
Những biểu hiện về rối loạn tiêu hóa dễ gặp ở người bị stress là chán ăn, ăn không tiêu, viêm loét dạ dày tá tràng. Ngoài ra những biểu hiện về mặt cơ xương cũng xuất hiện như đau thắt lưng [10],[46]. Yếu tố nguy cơ của stress nghề nghiệp Stress nghề nghiệp liên quan đến tổ chức công việc, thiết kế công việc và quan hệ lao động. Stress nghề nghiệp xảy ra khi nhu cầu của công việc không phù hợp hoặc vượt quá khả năng của người lao động hoặc khi kiến thức, khả năng của người lao động không phù hợp với kỳ vọng của tổ chức.
Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) xác định các yếu tố gây stress nghề nghiệp vào năm 1984, đó là sự tương tác giữa môi trường làm việc, nội dung công việc, điều kiện tổ chức với năng lực, nhu cầu, văn hóa công việc cá nhân của người lao động [36]. Nội dung công việc bao gồm các lĩnh vực đó là loại công việc thường mang tính chất đơn điệu, kém kích thích, thiếu sự đa dạng, người lao động cảm thấy vô nghĩa, không hứng thú khi làm việc. Khối lượng và tiến độ công việc quá nhiều hoặc quá ít để làm, áp lực thời gian làm việc cũng là nguyên nhân gây stress. Giờ làm việc là nội dung thường gây stress nhất khi quá nghiêm ngặt hoặc không linh hoạt, thời gian làm việc quá dài, đột xuất.
Một lĩnh vực gây stress trong nội dung 7 công việc đó là thiếu sự tham gia vào việc ra quyết định, thiếu kiểm soát quá trình làm việc về thời gian hoàn thành, tốc độ hoàn thành, phương pháp làm việc [46]. Môi trường công việc bao gồm việc phát triển nghề nghiệp và trả lương. Stress xảy ra khi người lao động cảm thấy không an toàn trong công việc, thiếu cơ hội thăng tiến hoặc thăng tiến quá mức, trả lương chậm và hệ thống đánh giá hiệu suất không rõ ràng hoặc không công bằng, bị khiển trách quá mức hoặc kém kỹ năng trong công việc. Môi trường công việc còn đề cập tới vai trò trong tổ chức như việc không rõ ràng, các vai trò mâu thuẫn nhau cũng dễ gây stress.
Mối quan hệ giữa các cá nhân như không hỗ trợ, mối quan hệ kém với đồng nghiệp, tình trạng bắt nạt, quấy rối và bạo lực, bị cô lập trong môi trường làm việc là nguyên nhân phổ biến gây stress nghề nghiệp. Vấn đề giao tiếp giữa đồng nghiệp, giao tiếp với lãnh đạo chưa hiệu quả cũng được đề cập tới trong những nguyên nhân thuộc môi trường làm việc [46]. Stress nghề nghiệp là một vấn đề được công nhận trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Điều dưỡng là một nghề nghiệp có mức độ stress cao.
Stress nghề nghiệp đối với điều dưỡng lần đầu tiên được đánh giá bằng Menzies. Ông xác định bốn nguồn gây stress trong điều dưỡng là: Chăm sóc người bệnh, ra quyết định, chịu trách nhiệm và sự thay đổi. Các vai trò công việc của người điều dưỡng dựa trên lao động thể chất, tâm lý cảm xúc đau khổ của con người, giờ làm việc, nhân sự và các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau [31],[42]. Các ảnh hưởng của stress nghề nghiệp Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp tới cá nhân Stress nghề nghiệp ảnh hưởng đến mọi người theo những cách khác nhau.
Stress nghề nghiệp kéo dài có thể gây ra những bất thường và rối loạn chức năng hành vi trong công việc. Ngoài ra stress còn làm giảm sức khỏe thể chất và tinh thần như giận dữ, nóng nảy thường xuyên, sống khép mình, không thích tiếp xúc với mọi người xung quanh. Trong trường hợp cực đoan, stress kéo dài gây nên các vấn đề tâm lý dẫn đến các rối loạn tâm thần và có thể tham gia vào các hoạt động không 8 lành mạnh như hút thuốc lá và lạm dụng thuốc để tìm lại sự cân bằng [10],[27],[46]. Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp tới tổ chức làm việc.
Stress nghề nghiệp có thể gây ra thách thức lớn đối với sức khỏe và hiệu suất làm việc của người lao động trong tổ chức như làm tăng tỉ lệ nghỉ việc, giảm hiệu suất làm việc của nhân viên chủ chốt và một số lượng lớn nhân viên dẫn đến tăng số lượng lao động tuyển thêm để đáp ứng công việc. Ngoài ra stress nghề nghiệp còn làm tăng tỉ lệ thực hành không an toàn và tỉ lệ tai nạn nghề nghiệp. Những ảnh hưởng trên làm cho khiếu nại giữa khách hàng và tổ chức tăng lên, gia tăng mâu thuẫn pháp lý. Hậu quả sau cùng là làm hỏng hình ảnh của tổ chức đối với nhân viên và bên ngoài [27].
Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đối với điều dưỡng. Stress gây nên những tình trạng rối loạn về mặt thực thể và tâm thần của ĐDV như mệt mỏi, lo lắng, trầm cảm, tăng huyết áp. Những rối loạn này dẫn đến giảm trí nhớ, khả năng tập trung, hiệu quả công việc, gián tiếp dẫn đến tỉ lệ nghỉ việc tăng lên. Stress nghề nghiệp còn làm cho ĐDV thiếu tự tin, khả năng ra quyết định kém, giảm trình độ chuyên môn, giảm sự hài lòng trong công việc.
Hậu quả nặng nề stress nghề nghiệp mang lại không riêng gì với ĐDV mà còn đối với người bệnh, hệ thống y tế đó là gây nên sự xa lánh, giảm tiếp xúc với người bệnh dẫn tới giảm chất lượng chăm sóc.