ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), stress liên quan đến nghề nghiệp là phản ứng có thể xảy ra ở con người khi yêu cầu và áp lực trong công việc vượt quá khả năng, kiến thức của họ hoặc thách thức khả năng đối phó của họ [48]. Nghề điều dưỡng chịu trách nhiệm chăm sóc và cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho người bệnh và gia đình của họ một cách nhân văn, với tinh thần trách nhiệm cao, đòi hỏi sự thấu cảm và sự tương thích với văn hóa. Khi phải đảm bảo chất lượng chăm sóc cao trong điều kiện nguồn lực hạn chế, điều dưỡng viên khó tránh khỏi việc gặp căng thẳng trong công việc [38]. Do đó, khi gặp stress trong công việc sẽ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ tinh thần và thể chất, ảnh hưởng đến khả năng làm việc, sự hài lòng và chất lượng làm việc [40, 38].
Stress có tỷ lệ mắc phổ biến ở điều dưỡng viên trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Nghiên cứu tại 13 bệnh viện ở Jordani, SH. Hamaideh và cộng sự kết quả chỉ ra: thực trạng quá tải và việc phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến tử vong của người bệnh trong quá trình làm việc là những nguyên nhân căn bản dẫn đến áp lực căng thẳng trong công việc của người điều dưỡng [35]. Một nghiên cứu khác trên 983 điều dưỡng từ 21 bệnh viện Slovenia, cho thấy tỷ lệ stress cao là 56,5% số người được hỏi [32].
Tại Việt Nam, theo Ngô Thị Kiều My (2014) cho thấy tỷ lệ điều dưỡng bị stress chiếm 18,1%, trong đó có 2,7% bị stress ở mức độ nặng [14]. Dương Thành Hiệp và cộng sự tỷ lệ stress chung của điều dưỡng, hộ sinh ở 8 khoa lâm sàng bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre là 56,9% [8]. Về một số yếu tố liên quan, nhiều nguyên cứu đã chỉ ra rằng nhóm tuổi, điều dưỡng viên có con nhỏ, thâm niên công tác và mức lương ảnh hưởng đến nguy cơ stress của điều dưỡng viên [10, 7, 43]. Nghiên cứu tại Iran năm 2015 cho biết trong số bốn yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng ở điều dưỡng, các yếu tố hành chính có tác động cao nhất, sau đó tiếp theo bởi các yếu tố môi trường và các yếu tố giữa các cá nhân [37].
Nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Mai và cộng sự (2014) cho kết quả nhóm tác nhân gây stress thường xuyên nhất và mức độ cao nhất đối với điều dưỡng là các nhóm liên quan đến: chứng kiến cái chết và sự chịu đựng đau đớn của người bệnh với mức độ gây stress là 1,64 tần suất 0,83, khối lượng công việc lớn với mức độ gây stress là 1,42 tần suất 0,99. Một số Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ, Bệnh viện Sản Nhi Phú Thọ, và Trung tâm Điều dưỡng Phục hồi chức năng tâm thần Phú Thọ có nhiều chuyên khoa đặc thù, đòi hỏi điều 1 dưỡng viên phải chăm sóc tỉ mỉ và đáp ứng những biến đổi tâm lý phức tạp của người bệnh. Công việc này đặt ra nhiều thách thức và tiềm ẩn nguy cơ gây stress cho đội ngũ điều dưỡng. Đi cùng với sự phát triển tại các cơ sở y tế tại địa bàn tỉnh Phú Thọ càng làm gia tăng thêm gánh nặng stress đối với nhóm đối tượng là nhân viên điều dưỡng tại đây.
Hiện nay tại Việt Nam, tuy có nhiều nguyên cứu về thực trạng stress của điều dưỡng nhưng hiện nay có rất ít nghiên cứu về stress của nhân viên y tế tại địa bàn tỉnh Phú Thọ. Vậy thực trạng stress của điều dưỡng viên tại các bệnh viện ở Phú Thọ ra sao và những yếu tố nào liên quan đến mức độ stress đó? Với những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng stress công việc của điều dưỡng viên và một số yếu tố liên quan tại ba cơ sở điều trị tỉnh Phú Thọ năm 2024” nhằm đạt được các mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng stress công việc ở điều dưỡng viên chăm sóc người bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, bệnh viện Sản Nhi Phú Thọ, trung tâm điều dưỡng phục hồi chức năng tâm thần Việt Trì, tỉnh Phú Thọ năm 2024. Phân tích một số yếu tố liên quan đến stress công việc của điều dưỡng viên tại ba cơ sở điều trị tỉnh Phú Thọ.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về Stress 1. Khái niệm Stress Stress, hay còn được gọi là sang chấn tâm lý, là những phản ứng sinh học không đặc thù của cơ thể trước các thay đổi liên tục và không ngừng của môi trường sống. Phản ứng này bao gồm những biến đổi lý, hóa và sinh học của con người.
Trong đó, yếu tố tâm lý đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển phản ứng stress. Nói một cách đơn giản, stress tâm lý là những cảm xúc mạnh, thường là tiêu cực, phát sinh từ các sự kiện, hoàn cảnh trong cuộc sống hoặc các tương tác xã hội phức tạp. Những cảm xúc này có thể bao gồm sợ hãi, lo âu, buồn bã, tức giận, và các trạng thái tâm lý khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người [3]. Khái niệm stress vừa để chỉ tác nhân công kích, vừa để chỉ phản ứng của cơ thể trước các tác nhân đó.
Stress được xem như sự đáp ứng chủ thể trước một nhu cầu hoặc trước những tác động của môi trường xung quanh. Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh lý và tập tính. Stress đặt chủ thể vào quá trình dàn xếp thích ứng, tạo ra một cân bằng mới cho cơ thể sau khi chịu những tác động của môi trường. Nói cách khác, phản ứng stress bình thường đã góp phần làm cho cơ thể thích nghi.
Nếu đáp ứng của cá nhân với các yếu tố stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra một cân bằng mới, thì chức năng của cơ thể ít nhiều sẽ bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý cơ thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và sẽ tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [32]. Như vậy, stress là một phản ứng tự nhiên của cơ thể trước bất kỳ yêu cầu hoặc áp lực nào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con người. Dù trong nhiều trường hợp, stress có thể mang tính thích ứng và giúp con người phát triển khả năng đối phó với khó khăn, nhưng khi stress trở nên quá mức hoặc kéo dài, nó sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực, ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống sinh lý, tâm lý và tập tính. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện, quản lý và kiểm soát stress để bảo vệ sức khỏe tổng thể của mỗi cá nhân.
Việc hiểu rõ cơ chế phản ứng của cơ thể đối với stress cũng giúp chúng ta phát triển những chiến lược phù hợp để đối phó, chẳng hạn như thư giãn, tập thể dục, hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè trong những thời điểm khó khăn. Các yếu tố chính gây stress Đó là các sang chấn tâm thần và hoàn cảnh xung đột. Xung đột giữa nhân cách và môi trường xung quanh như: Mâu thuẫn giữa cá nhân và yêu cầu xã hội, đặc biệt xung quanh vấn đề kinh tế, vỡ nợ, chơi hụi, mất tài sản, khó khăn kinh tế. Mâu thuẫn kéo dài trong công tác, ở cơ quan: Mất việc làm, bị đuổi việc, thải hồi.
Về hưu (bị hẫng hụt về nhiều mặt: quyền lực, chế độ đãi ngộ, và tâm lý. Thay đổi điều kiện công tác, chuyển công tác đi nơi khác mà mình không muốn. Mâu thuẫn với cấp trên, với đồng nghiệp. Bị cấp trên khiển trách, trù dập, không tin tưởng.
Mâu thuẫn trong đời sống cá nhân gia đình: Bệnh tật, tang tóc của người thân.Các con bỏ nhà ra đi, lang thang, hư hỏng, tù tội. Sự có thai ngoài ý muốn, đặc biệt là thai hoang. Bố mẹ bất hoà, ly hôn.Kết hôn không toại nguyện, trục trặc trong hôn nhân, vợ chồng không hoà hợp. Thất vọng trong tình yêu.
Con cái bị tàn tật. Thay đổi hoàn cảnh sống. Tâm chấn có thể ít, có thể nhiều, có thể cấp tính cũng có thể trường diễn [3]. Yếu tố nguy cơ: bao hàm cả xác suất của một tác dụng có hại đến sức khỏe con người, môi trường, tài sản và cả mức độ của những nguy cơ có liên quan.
Vậy yếu tố nguy cơ là bất kỳ tác nhân nào ảnh hưởng đến khả năng mắc một bệnh nào đó. Tức là có sự xuất hiện của yếu tố nguy cơ đồng nghĩa với tăng khả năng mắc bệnh. Tuy rằng yếu tố nguy cơ không trực tiếp gây bệnh, nhưng nó đóng vai trò tác nhân khiến cho chúng ta dễ mắc bệnh hơn và góp phần làm nặng thêm tình trạng bệnh. Những người có càng nhiều yếu tố nguy cơ với một bệnh nào đó thì tỉ lệ mắc bệnh sẽ càng tăng.
Như vậy việc lượng giá yếu tố nguy cơ sẽ giúp chúng ta có thể phòng bệnh và tiên lượng bệnh được tốt hơn [17]. Khái niệm về stress nghề nghiệp Stress nghề nghiệp được định nghĩa là những phản ứng có hại về tâm sinh lý của con người khi có sự mất cân bằng giữa yêu cầu công việc với năng lực, nguồn lực hoặc nhu cầu cá nhân của người lao động. Những phản ứng này có thể diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau, từ sự mệt mỏi, căng thẳng tinh thần đến những thay đổi rõ rệt về sức khỏe thể chất. Khi không được kiểm soát kịp thời, stress nghề nghiệp có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, thậm chí là gây thương tích hoặc những tổn thương dài hạn đến sinh lý và tâm lý của người lao động [2].
Theo tác giả Terry và John năm 1978, đã đưa ra định nghĩa về stress nghề nghiệp 4 cụ thể: Stress nghề nghiệp là sự tương tác giữa các điều kiện lao động với những nét đặc trưng của người lao động làm thay đổi các chức năng bình thường về tâm lý hoặc sinh lý hoặc cả hai [36]. Điều này có nghĩa là stress nghề nghiệp không chỉ phụ thuộc vào môi trường làm việc mà còn liên quan mật thiết đến cách mà mỗi cá nhân phản ứng và thích nghi với những yếu tố áp lực từ công việc. Đặc điểm cá nhân, như khả năng chịu đựng căng thẳng, khả năng quản lý thời gian và mức độ hỗ trợ từ đồng nghiệp hoặc gia đình, đều là những yếu tố góp phần vào mức độ nghiêm trọng của stress .