đặt vấn đề rằng mỗi nhà quản lý cần đi đầu trong việc thu hút, nuôi dƣỡng, và phát triển khả năng làm việc hiệu quả và những kỹ năng 10 thực tiễn cần thiết của nhân viên, tìm hiểu về công việc và bản chất con ngƣời để tạo động lực làm việc cho đội ngũ. Đồng thời, tác giả cũngrất quan tâm đến hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực và cho rằng đây là một trong những nhiệm vụ thƣờng xuyên của nhà quản lý nhằm giúp nhân viên ngày càng hoàn thiện, phát triển năng lực nghề nghiệp. Từ đó, giúp nhà quản lý hình dung và thực hiện hiệu quả trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên tại trƣờng trung học cơ sở. Ngoài ra, tại một số quốc gia trên thế giới cũng quan tâm đến nghiên cứu vấn đề liên quan nhƣ: Ở Phi - lip - pin, quốc gia cùng khu vực và có những chỉ tiêu cơ bản tƣơng tự nhƣ nƣớc ta, trong kế hoạch tổng thể đào tạo bồi dƣỡng giáo viên 10 năm (1998-2008) đã đề ra những giải pháp đáng lƣu ý.
Chẳng hạn, trong đào tạo giáo viên thì thu hút những học sinh trung học có chất lƣợng khá giỏi vào ngành sƣ phạm. Trong sử dụng và bồi dƣỡng thì xem lại thang lƣơng giáo viên với những ngƣời cùng trình độ để cải thiện đời sống và tạo thuận lợi cho họ trong công tác đồng thời khai thác chỗ làm cho giáo viên mới ra trƣờng, giảm bớt tình trạng giáo viên mới không có chỗ làm việc. Mặt khác, thể chế hóa và củng cố việc bồi dƣỡng tại chức, nâng cao nhận thức của dân chúng về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của giáo viên trong xã hội [29]. Còn ở Nhật Bản, quốc gia phát triển vào bậc nhất của Châu Á cũng đặc biệt chú trọng tới công tác phát triển đội ngũ giáo viên.
Luật Giáo dục Nhật Bản quy định: “Địa vị xã hội của giáo viên phải đƣợc tôn trọng, sự đối xử đúng đắn và phù hợp với giáo viên phải đƣợc đảm bảo”. Để trở thành giáo viên phổ thông phải có chứng chỉ sƣ phạm. Nhật Bản có quy chế bồi dƣỡng bắt buộc hàng năm đối với giáo viên phổ thông mới vào nghề. Giáo viên đƣơng nhiệm đƣợc bồi dƣỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phƣơng thức đổi mới, đa dạng.
Chính sách đãi ngộ giáo viên chủ yếu thể hiện qua lƣơng, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lƣơng dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần. Giáo viên trƣờng công ở Nhật Bản đƣợc hƣởng nhiều loại trợ cấp, 11 quan trọng nhất là tiền thƣởng 3 lần trong năm và cao gấp 5,2 lần lƣơng tháng [8]. Đối với Cộng hòa Pháp, một quốc gia có nền giáo dục phát triển cao thuộc cộng đồng Châu Âu, có quy định về tuyển dụng giáo viên phải thông qua thi tuyển (vào ngạch công chức giáo viên).Các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ có thể tuyển dụng giáo viên cộng tác (Giáo viên hợp đồng) để giảng dạy các môn về kỹ thuật và dạy nghề.
Giáo viên của cơ sở giáo dục tƣ thục cũng đƣợc hƣởng chính sách nâng ngạch bậc nhƣ giáo viên các cơ sở giáo dục công lập. Nhà nƣớc cấp kinh phí cho hoạt động đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ của giáo viên các cơ sở giáo dục tƣ thục cùng với mức và giới hạn áp dụng đối với giáo viên các trƣờng công lập. Về chế độ ƣu đãi giáo viên, Luật giáo dục Cộng hòa Pháp có quy định: Giáo viên chính thức hoặc thực tập sinh có quyền có nhà ở hoặc có phụ cấp nhà ở, lƣơng chính của giáo viên trung học và tƣơng đƣơng, ngoài lƣơng theo văn bằng còn có lƣơng theo cấp bậc và trợ cấp bù giá [3]. Nhìn chung, các tác giả và các nƣớc trên thế giới đã rất quan tâm nghiên cứu đến các vấn đề liên quan đến quản lý, những quan điểm về cách thức quản lý hiệu quả, những kinh nghiệm trong quản lý.
Tuy các công trình chƣa đề cập trực tiếp đến công tác quản lý đội ngũ giáo viên trƣờng trung học cơ sở nhƣng các thành tựu nghiên cứu này đã giúp ngƣời nghiên cứu tổng hợp, xây dựng những biện pháp quản lý hiệu quả đội ngũ giáo viên tại các trƣờng THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dƣơng.Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thành Nghị (2000) cho thấy, để có thể quản lý có hiệu quảcần đƣợc sử dụng và tập trung vào: (1) Tạo dựng các hoạt động có tính định hƣớng của tổ chức; (2) Xác định các lĩnh vực đổi mới liên quan đến tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu chung của tổ chức; (3) Xem xét định hƣớng tổng thể trong phạm vi hoạt động truyền thống của tổ chức cũng nhƣ nhìn xa hơn trong những năm tới; (4) Nhấn mạnh vào việc làm nhƣ thế nào và tại sao, xác định chiến lƣợc và thực thi chiến lƣợc; (5) Tìm những lợi thế cạnh tranh lớn nhất 12 của tổ chức so với các tổ chức tƣơng tự, lựa chọn đối tƣợng sinh viên phục vụ và xác định nguồn tài trợ [22] Nhằm thực hiện Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thƣ về “xây dựng nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010”. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã thực hiện “Nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo Việt Nam” để làm căn cứ cho việc ra quyết định liên quan đến đội ngũ nhà giáo. Trong đó, báo cáo khiến nghị những vấn đề cần đƣợc quan tâm nhƣ: Khả năng sử dụng ngoại ngữ để hỗ trợ cho hoạt động nghề nghiệp; Khả năng gắn kết giảng dạy, nghiên cứu khoa học với thực tiễn lao động sản xuất; Khả năng biết và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy; Sự am hiểu về các vấn đề văn hóa xã hội [37] Theo tác giả Nguyễn Hải Thập (2009), trong một nghiên cứu thực hiện Luật Viên Chức tác giả cho rằng, để đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp chấn hƣng nền giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cần đƣợc thực hiện trên nền tảng pháp lý vững chắc, đó là các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao. Đồng thời, cần thực hiện việc “luật hóa” các quan điểm, chủ trƣơng của Đảng đó là: Tôn vinh nhà giáo và nghề dạy học, nâng cao vị trí xã hội của nhà giáo; Đào tạo đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; Bồi dƣỡng phẩm chất, năng lực, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; Chăm lo đời sống vất chất và tinh thần của đội ngũ nhà giáo vá cán bộ quản lý; Quản lý sử dụng đãi ngộ đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý [13] Theo công trình nghiên cứu của tác giả Trần Bá Hoành (2010), kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ cấu đội ngũ giáo viên không đồng bộ, không đáp ứng yêu cầu chuyển biến trƣờng phổ thông về mục tiêu và tính chất, đổi mới kế hoạch đào tạo.
Tác giả cho rằng, sự không đồng bộ trong cơ cấu ĐNGV là một nhƣợc điểm nổi bật làm ảnh hƣởng lớn đến nội dung giáo dục toàn diện và sự chuyển biến về tính chất trƣờng THCS. Qua đó, tác giả đã có những kiến nghị nhƣ: Giữ lấy đội ngũ giáo viên hiện có, nhất là GV có thâm niên; Sử dụng hợp lý ĐNGV hiện có; Liên kết cả trong và ngoài ngành về đào tạo bồi dƣỡng cho 13 ĐGVN; Rút kinh nghiệm trong công tác hƣớng nghiệp sƣ phạm, nâng cao chất lƣợng cho các trƣờng trung học và cao đẳng sƣ phạm [30, tr.267] Ngoài ra, theo Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh và Đinh Thị Kim Thoa (2011), các tác giả đã đề cập đến những vấn đề về phẩm chất, năng lực của ngƣời thầy, nghề thầy trong bối cảnh có nhiều sự phát triển. Nhóm tác giả đã đề ra các con đƣờng để ngƣời thầy tự tìm hiểu nâng cao đƣợc phẩm chất, năng lực của bản thân, đáp ứng yêu cầu của nhà giáo trong điều kiện đất nƣớc thực hiện hội nhập và công nghiệp hóa, đƣa giáo dục vào sự chuẩn hóa, hiện đại hóa [20] Nghiên cứu khác của Nguyễn Danh Hữu (2016) tác giả đã xác định các nhóm năng lực sƣ phạm cơ bản của ngƣời giáo viên cần đƣợc đào tạo và bồi dƣỡng phát triển, cụ thể nhƣ: (1) Nhóm năng lực về phẩm chất đạo đức (Thế giới quan đóng vai trò nền tảng, định hƣớng thái độ hành vi ứng xử của giáo viên với thế giới tự nhiên và xã hội; lòng yêu trẻ; ứng xử bình đẳng, dân chủ, tôn trọng nhân cách của ngƣời học, biết hợp tác với ngƣời học trong quá trình dạy học, giáo dục; lòng yêu nghề, cam kết trách nhiệm với nghề); (2) Nhóm năng lực dạy học và giáo dục (năng lực chuẩn đoán, tìm hiểu nhu cầu đối tƣợng dạy học, giáo dục; năng lực thiết kế kế hoạch giáo dục, dạy học; năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục, dạy học; năng lực giám sát, đánh giá kết quả hoạt động dạy học, giáo dục; năng lực giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, năng lực dạy học tích hợp, dạy học phân hóa, dạy học vì sự phát triển bền vững [12] Nghị quyết TW khóa VIII đã nêu: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lƣợc phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dƣỡng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng nhƣ cán bộ quản lý giáo dục”. Trong chiến lƣợc phát triển giáo dục 2011 – 2020 của Chính phủ cũng nêu rõ: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lƣợng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lƣợng đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục” [11].
Những năm gần đây Đảng, Nhà nƣớc còn có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, các chế độ chính sách để quan tâm tới đội ngũ giáo viên. Điều mong muốn là đất nƣớc ta trở thành một xã hội học tập, trong đó đội ngũ thầy cô giáo có năng lực, trình độ ngang tầm với sự phát triển của thờiđại.