ĐẶT VẤN ĐỀ Quá trình hiện đại hóa đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm và hành vi về tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình. Tuổi kết hôn tăng lên nhƣng tuổi có quan hệ tình dục lần đầu ngày càng trẻ hoá [10]. Theo báo cáo của SAVY, trong tổng số nam VTN/TN có QHTDTHN, có 15,3% nam VTN/TN đã từng làm cho bạn tình mang thai (37 ngƣời), trong đó, có tới 72,5% làm cho bạn gái nạo phá thai. Trong tổng số ngƣời đã từng QHTD, có 90,4% nữ VTN/TN đã từng mang thai và trong tổng số ngƣời mang thai này, có 21,1% nữ VTN/TN đã từng nạo hút thai [12].
Tuy nhiên, những hiểu biết về sức khỏe tình dục, sinh sản của nhóm đối tƣợng này còn hạn chế. Không chỉ ở lứa tuổi vị thành niên mới không có những hiểu biết về sức khỏe sinh sản, tình dục nên phải nhận hậu quả là có thai ngoài ý muốn, mà ngay cả lứa tuổi lớn hơn là sinh viên thì cũng rất nhiều sinh viên nữ đã mang thai ngoài ý muốn vì thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết đôi khi dẫn đến những hậu quả khôn lƣờng[25]. Số liệu khảo sát của Bộ Y tế công bố vào cuối tháng 3 năm 2013 vừa qua cho thấy có 44% thanh niên và vị thành niên ở Việt Nam chấp nhận quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân, tỷ lệ chấp nhận ở nam giới cao hơn nữ giới, 20% số ca nạo phá thai là ở tuổi vị thành niên [25]. Tại Đắk Lắk, theo thống kê của trung tâm CSSKSS của tỉnh, tình trạng nạo phá thai trong 5 năm gần đây có xu hƣớng tăng khoảng 4000 lƣợt ngƣời/năm, tập trung chủ yếu nhóm tuổi từ 17 đến 30 [52].
Trƣờng Trung cấp Y tế ĐăkLăk nằm trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột. Hầu hết các học sinh của Trƣờng đều sống xa nhà, ở trọ nên phải tự chăm lo cho sức khỏe và mọi vấn đề trong cuộc sống của chính bản thân mình. Trong những năm gần đây tình trạng học sinh có QHTDTHN và hậu quả là năm học 2014 có 5học sinh đã mang thai và các em gặp nhiều khó khăn trong việc học tập. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quan điểm, hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của học sinh trường Trung cấp Y tế ĐăkLăk năm 2015” để có thể đƣa ra đƣợc những khuyến nghị phù hợp cho ban lãnh đạo nhà trƣờng và các phòng ban liên quan có những định hƣớng và kế hoạch tƣ vấn cho học sinh.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả quan điểm, hành vi quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của học sinh trƣờng Trung cấp Y tế ĐăkLăk, tỉnh ĐăkLăk, năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến quan điểm và hành vi quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của học sinh trƣờng Trung cấp Y tế ĐăkLăk, tỉnh ĐăkLăk, năm 2015. 3 Chƣơng1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu: Quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân Quan hệ tình dục là hành vi đƣa bộ phận sinh dục nam vào trong bộ phận sinh dục nữ[33]. Quan hệ tình dục cũng có thể là giữa những thực thể khác hoặc cùng giới tính hoặc lƣỡng tính. Những năm gần đây, việc thực hiện với những bộ phận không phải là bộ phận sinh dục (quan hệ đƣờng miệng, đƣờng hậu môn, hoặc dùng ngón tay) cũng đƣợc bao gồm trong định nghĩa này[33]. Quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân là tình trạng nam/nữ có quan hệ tình dục với bạn tình khi họ chƣa tổ chức đám cƣới hoặc chƣa đăng ký kết hôn.
Quan hệ tình dục an toàn Tình dục an toàn: Có một số khái niệm về quan hệ tình dục an toàn và khái niệm phổ biến là “Quan hệ tình dục an toàn là các hành vi QHTD có bảo vệ phòng tránh có thai ngoài ý muốn và phòng tránh bệnh lây truyền qua QHTD kể cả HIV/AIDS” [32]. Trong nghiên cứu này thuật ngữ quan hệ tình dục an toàn đề cập đến QHTD giao hợp có sử dụng bao cao su (BCS) có thể phòng tránh có thai ngoài ý muốn và phòng tránh bệnh lây truyền qua QHTD kể cả HIV/AIDS. Tình dục an toàn bao gồm các yếu tố nhƣ: không có nguy cơ nhiễm khuẩn lây truyền qua đƣờng tình dục và mang thai ngoài ý muốn. Về phƣơng diện tránh thai, TDAT gồm sử dụng BPTT an toàn, hiệu quả và đúng.
Tình dục lành mạnh là khi phù hợp với những đặc thù của tình dục ngƣời, với chuẩn mực đạo đức, văn hóa của xã hội hiện đại. Tình dục lành mạnh phải đảm bảo 4 yếu tố: tự nguyện, đồng thuận, có trách nhiệm và tôn trọng lẫn nhau. Các hành vi: xâm hại tình dục, quan hệ với gái mại dâm, ngoại tình… thƣờng đƣợc xã hội coi là không lành mạnh. Các biện pháp tránh thai Có 2 loại biện pháp tránh thai chính, đó là BPTT hiện đại (dụng cụ tử cung, thuốc viên tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, bao cao su, thuốc cấy tránh thai, triệt 4 sản nam và nữ, thuốc diệt tinh trùng) và BPTT truyền thống (xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh.
Trong đó, chỉ có một vài biện pháp tránh thai phù hợp với thanh niên nhƣ là: bao cao su, thuốc viên tránh thai kết hợp, thuốc tránh thai khẩn cấp và thuốc diệt tinh trùng[2],[4]. Phá thai Phá thai có 2 phƣơng pháp chính là dùng thuốc (nội khoa) và hút chân không (ngoại khoa) để ép buộc (phá bỏ) thai nhi ra khỏi bụng mẹ. Phá thai để lại hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về sức khỏe, tinh thần và xã hội đối với nữ vị thành niên, gây ảnh hƣởng lớn đến quá trình học tập và phát triển không chỉ của vị thành niên mà còn ảnh hƣởng lớn đến chất lƣợng nòi giống, đến gia đình và xã hội[2],[3]. Phá thai không phải là biện pháp kế hoạch hóa gia đình mà chỉ là một biện pháp can thiệp để giải quyết những có thai ngoài ý muốn hoặc là những trƣờng hợp bệnh lý cần phải phá thai vì lý do của ngƣời mẹ hay của thai nhi[5].
Thực trạng quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân trên thế giới và Việt Nam. Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trên thế giới: Nghiên cứu về mức độ QHTD trƣớc hôn nhân cũng nhƣ những yếu tố ảnh hƣởng đƣợc tiến hành ở Costa-Rica [42]. Mẫu nghiên cứu mang tính đại diện quốc gia gồm những nữ thanh thiếu niên tuổi từ 15-24, cho phép phân tích so sánh các thuần tập (cohort) khác nhau, cho thấy tới tuổi 20, có tới 38% nữ thanh niên đã từng có QHTD trƣớc hôn nhân. Khác với nhiều suy đoán, các tác giả tìm thấy rằng những nhóm trẻ tuổi trẻ có xu hƣớng QHTD trƣớc hôn nhân ít hơn những nhóm nhiều tuổi.
Nghiên cứu của O'Sullivan (2005) về nhận thức liên quan đến tình dục khi dậy thì ở nữ VTN mẹ Mỹ gốc Phi thấy rằng ở tuổi dậy thì có sự trƣởng thành về cơ thể tạo nên vị trí mới về mặt xã hội, có sự thay đổi vai trò ở tuổi VTN và mong muốn tình dục làm thay đổi trong quan hệ VTN. Sự thay đổi cơ thể, nhận thức về dậy thì và trạng thái tâm lý ở tuổi VTN có liên quan với QHTD, có thai ở VTN và ảnh hƣởng tới quá trình phát triển bình thƣờng của VTN [37]. Nhận thức và tự hứa trì hoãn QHTD ở VTN có liên quan đến giảm QHTD và tình dục đƣờng miệng. Vì vậy cần đề cao cam kết cá nhân về trì hoãn QHTD, đề 5 cao chuẩn mực xã hội về trì hoãn QHTD ở VTN và nâng cao nhận thức về các nguy cơ liên quan QHTD sớm và sự phát triển VTN.
Số liệu nghiên cứu dọc về sức khỏe thanh thiếu niên Mỹ - Add Health (2006) cho thấy thái độ và hành vi tình dục của bạn thân có ảnh hƣởng tới hành vi QHTD ở VTN [52]. Có sự khác nhau giữa giới tính và chủng tộc về nhận thức, thái độ về QHTD và mang thai, nạo hút thai. Nữ VTN nhận thức rằng ít phúc lợi hơn nam về QHTD, nữ thấy xấu hổ hơn, hối lỗi hơn nam về QHTD, nữ ít suy nghĩ tiêu cực hơn nam về có thai. So với VTN da trắng thì VTN gốc Phi ít thấy xấu hổ và hỗi lỗi hơn về QHTD [52].
Trình độ học vấn cao cũng có liên quan tới việc ít có QHTD trƣớc hôn nhân hơn. Nghiên cứu về vấn đề tình dục, tránh thai và mang thai ở vị thành niên (VTN) tại thủ đô Mexico cho thấy với các em nữ độ tuổi 12-15, những yếu tố làm giảm khả năng có QHTD trƣớc hôn nhân là: vâng lời cha mẹ, có nguyện vọng đƣợc đi học, thảo luận công khai vấn đề tình dục với bạn bè cùng trang lứa. Đặc biệt ở mức độ gia đình: việc đã từng có chị gái có thai ngoài hôn nhân và mẹ từng độc thân trong lần có thai đầu tiên làm giảm nguy cơ các em gái có QHTD trƣớc hôn nhân[41]. Với các đối tƣợng thuộc nhóm tuổi 16-19, các yếu tố cá nhân, bạn bè và gia đình cũng tƣơng tự trên, tuy nhiên việc có trao đổi với cha mẹ về các vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) và tình dục cũng là một yếu tố “bảo vệ” có liên quan tới tỷ lệ QHTD thấp hơn.
Nghiên cứu tìm hiểu khác biệt về mặt xã hội và giới trong QHTD và sinh đẻ ở VTN bang Leon, Nicaragua dựa trên 7.789 hộ gia đình cho thấy trình độ học vấn thấp, việc không sống cùng bố đẻ, và sống cùng với bố dƣợng là ba yếu tố làm tăng nguy cơ QHTD sớm trƣớc hôn nhân [48]. Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân tại Việt Nam: Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập về kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học. Theo đó, những quan điểm của thanh niên/vị thành niên về QHTD đã có nhiều thay đổi, không còn khắt khe nhƣ trƣớc. Qui mô gia đình truyền thống với nhiềuthế hệ truyền thống dần dần đƣợc thay thế bằng gia đình hạt nhân, gia đình thiếu cha hoặc mẹ… Những thay đổi này ảnh hƣởng không nhỏ đến kiến thức – thái độ - hành vi trong nhiều mặt của giới trẻ, kể cả lĩnh vực tình dục, sinh sản [39].
6 Thanh niên Việt Nam ngày nay có xu hƣớng kết hôn muộn hơn trƣớc. Theo kết quả thống kê từ cuộc điều tra dân số và nhà ở thực hiện năm 2009, tuổi kết hôn trung bình có xu hƣớng tăng. Năm 1999 tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nữ và nam thanh niên lần lƣợt là 22,8 và 25,4. Năm 2009, tuổi kết hôn trung bình lần đầu ở nữ không thay đổi, trong khi nam giới tăng lên 26,2 tuổi [18].