Đặt vấn đề Phát triển kinh tế là mục tiêu của tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến vượt bậc. Sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh sự CNH – HĐH đất nước, đặc biệt đối với lĩnh vực được coi là thế mạnh của Việt Nam. Phát triển nông nghiệp, nông thôn là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Trải qua một thời gian dài tồn tại và phát triển, hình thức kinh tế HTX trong nông nghiệp ngày càng khẳng định được vị trí đích thực của nó trong nền kinh tế quốc dân nói chung và nền sản xuất nông nghiệp nói riêng, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Tuy nhiên trước sự biến động không ngừng của nên kinh tế, nhu cầu ngày càng cao của thị trường và quan trọng là hình thức và cơ chế hoạt động của các loại hình kinh tế HTX nông nghiệp theo luật HTX năm 2003, luật HTX năm 2012 sửa đổi là một tất yếu khách quan. Đặc biệt, HTX nông nghiệp có vai trò rất quan trọng là cầu nối giữa các thành viên và bà con nông dân tiếp cận với các chủ trương, đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời là nơi tổ chức, hướng dẫn, tư vấn và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sản xuất cho thành viên, hộ nông dân như: Thủy lợi, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, bao tiêu sản phẩm, thú y,… Tuy nhiên, để hoàn thành công cuộc CNH – HĐH đất nước mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chúng ta phải trải qua nhiều thách thức trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến HTX nông nghiệp như: Hiện tại HTX nông nghiệp nước ta phát triển còn chậm, các HTX điển hình tiên tiến, làm ăn có lãi trong nông nghiệp còn ít, số HTX hoạt động đáp ứng như cầu n 2 thiết thực và mang lại hiệu quả thực sự chưa nhiều, trong khi số HTX yếu kém còn chiếm tỷ lệ cao.
Trong đó đáng lưu ý là còn một số HTX đang hoạt động mang tính hình thức, chưa được củng cố hoặc phải giải thể. Tình trạng một số HTX thành lập mới không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn mà ra đời đời với mục đích để hưởng chính sách vốn ưu đãi hoặc các chương trình tài trợ của tỉnh còn khá nhiều. Vì thế, khi phải bước vào hoạt động và hoạch toán độc lập thì các HTX này tỏ ra lúng túng và bị rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng. Qua đó sẽ có nhiều vấn đề lớn cần đặt ra như: Phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp, các HTX nông nghiệp theo hướng nào cho hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng thời điểm của Việt Nam.
Từ thực tiễn trên tôi lựa chọn Đề tài nghiên cứu “Thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu nhằm hiểu rõ về thực trạng hoạt động hiện nay của các HTX nông nghiệp trên địa bàn, những hạn chế còn tồn tại, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX để phát triển kinh tế, mở rộng sản xuất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cho huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Mục đích nghiên cứu Khảo sát thực trạng phát triển các HTX nông nghiệp. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển HTX nông nghiệp, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác và hình thức tổ chức HTX.
- Khảo sát thực trạng phát triển HTX và phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới sự phát triển của các HTX nông nghiệp trên địa bàn. n 3 - Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn.
Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin, xử lý số liệu và viết báo cáo. Là kết quả tham khảo cho việc tìm hiểu về tình hình phát triển kinh tế HTX nông nghiệp và các gải pháp nhằm phát triển kinh tế HTX nông nghiệp. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể đánh giá được thực trạng phát triển, các khó khăn gặp phải ảnh hưởng đến tình hình phát triển của các HTX nông nghiệp trên địa bàn. Giúp sinh viên được tham gia tìm hiểu, nghiên cứu và nâng cao kiến thức về HTX nông nghiệp cũng như kiến thức chuyên ngành.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người trải các hình thái kinh tế xã hội khác nhau và ở mỗi hình thái kinh tế xã hội đó sự phát triển của lực lượng sản xuất luôn đi cùng là một quan hệ sản xuất phù hợp. Chính vì vậy sự hợp tác giữa con người với con người với nhau trong quá trình sản xuất là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, từ nhu cầu của cuộc sống để nương tựa lẫn nhau, hỗ trợ nhau và bảo vệ nhau trong cuộc sống cũng như trong sản xuất [1].
Bởi lẽ, thông qua hợp tác sức lực của các cá nhân sẽ được kết hợp lại lớn mạnh hơn để nhằm thực hiện các công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng rẽ rất khó khăn mà thậm trí là không thể làm được. Chính vì vậy, cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người, quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá trong sản xuất cả về chiều sâu lẫn bề rộng đã thúc đẩy quá trình hợp tác ngày càng tăng. Sự hợp tác không chỉ được giới hạn ở phạm vi vùng, quốc gia mà còn được mở rộng ra phạm vi toàn cầu. Một minh chứng cụ thể cho quá trình hợp tác tất yếu phải diễn ra trên phạm vi thế giới đó là quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội,… đã làm cho sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt không chỉ diễn ra ở phạm vi quốc gia mà còn diễn ra trên phạm vi toàn cầu khiến cho các doanh nghiệp đều phải thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với xu thế mới [1].
Khái niệm về kinh tế hợp tác Kinh tế hợp tác là một phạm trù về lợi ích kinh tế do hợp tác mang lại nói lên sự liên kết tự nguyện của những người lao động, của các tổ chức, dưới n 5 nhiều hình thức, kết hợp sức mạnh của các thành viên, các tập thể để thực hiện có hiệu quả hơn các vấn đề trong sản xuất - kinh doanh và đời sống. Kinh tế hợp tác giản đơn là các tổ, hội, nhóm hợp tác được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các chủ thể kinh tế độc lập và có mục đích, hoạt động kinh doanh giống nhau, nhằm cộng tác, trao đổi những kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Khái niệm về kinh tế hợp tác trong nông nghiệp: Là phạm trù kinh tế nói lên lợi ích kinh tế do hợp tác giữa các đơn vị kinh tế trong các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế trong nông nghiệp để cùng nhau tiến hành sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp một cách có hiệu quả. Khái niệm về HTX Thực tiễn có muôn vàn cách thức con người có thể hợp tác với nhau, ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Riêng trong các loại hình kinh doanh, mô hình kinh tế hợp tác mà đỉnh cao là HTX là một mô hình mang tính nhân văn sâu sắc vì bản chất của nó không thuần túy là lợi nhuận, mà tính cộng đồng và tính xã hội rất cao. HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng ra đời trên cơ sở các mối quan hệ hợp tác phát triển. Vì vậy, ở đâu có mối quan hệ hợp tác phát triển thì ở đó sẽ xuất hiện hình thức HTX. HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX [8].
Liên hiệp HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 HTX tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của n 6 HTX thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp HTX [8]. Luật giải thích rõ thuật ngữ nhu cầu chung: Nhu cầu chung của thành viên, HTX thành viên là nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ giống nhau phát sinh thường xuyên, ổn định từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, đời sống của thành viên, hợp tác xã thành viên. Đối với HTX tạo việc làm thì nhu cầu chung của thành viên là nhu cầu việc làm của thành viên trong HTX do HTX tạo ra [8]. Đồng thời, Luật giải thích thuật ngữ: Sản phẩm, dịch vụ của HTX, liên hiệp HTX cho thành viên, HTX thành viên là sản phẩm, dịch vụ do HTX, liên hiệp HTX cung ứng cho thành viên, HTX thành viên theo hợp đồng dịch vụ thông qua một hoặc một số hoạt động sau đây: • Mua chung sản phẩm, dịch vụ từ thị trường để phục vụ cho thành viên, HTX thành viên.
• Bán chung sản phẩm, dịch vụ của thành viên, HTX thành viên ra thị trường. • Mua sản phẩm, dịch vụ của thành viên, HTX thành viên để bán ra thị trường. • Mua sản phẩm, dịch vụ từ thị trường để bán cho thành viên, HTX thành viên. • Chế biến sản phẩm của thành viên, HTX thành viên.
• Cung ứng phương tiện, kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ thành viên, HTX thành viên. • Tín dụng cho thành viên, HTX thành viên. • Tạo việc làm cho thành viên đối với HTX tạo việc làm. • Các hoạt động khác theo quy định của điều lệ HTX, liên hiệp HTX.