CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUỖI HỆ THỐNG BÁN LẺ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHUỖI HỆ THỐNG BÁN LẺ 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm bán lẻ và chuỗi hệ thống bán lẻ - Bán lẻ là một hoạt động ra đời từ rất lâu của con người do đó có khá nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra cho đến nay. Sau đây là một số định nghĩa được thừa nhận và sử dụng rộng rãi : + Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ tài liệu số TN.GNS/W/120 của vòng đàm phán Uruguay của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc ( CPC) : “Dịch vụ bán lẻ là hoạt động bán các hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định hay một địa điểm khác và các dịch vụ liên quan.” [16] + Theo Khoản 8, Điều 3 Nghị định 23/2007/ NĐ – Chính phủ ngày 12 tháng 2 năm 2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Bán lẻ là hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. + Trong cuốn “Quản trị Marketing” (2001), Phillip Kotler đưa ra định nghĩa về bán lẻ như sau: Bán lẻ bao gồm các hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không mang tính thương mại. [17] “ Như vậy hoạt động bán lẻ có thể hiểu là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc nhà bán sỉ rồi chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc gia đình.
Nhà bán lẻ là người sản xuất, người bán sỉ hay người bán lẻ có rất nhiều hình thức để tiến hành ” 9 hoạt động bán lẻ như bán hàng trực tiếp, qua điện thoại , qua máy bán hàng tự động hay bán hàng trực tuyến. Từ những định nghĩa trên ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của bán lẻ như sau: Hàng hóa được mua với mục đích tiêu dùng, không mang tính thương mại do đó hàng hóa đã được trao đổi không còn cơ hội để quay lại thị trường. Đồng thời người mua hàng cũng là người tiêu dùng cuối cùng. Đây chính là đặc điểm cơ bản nhất của bán lẻ.
Khách hàng chủ động và độc lập trong quyết định mua hàng. Thông thường đối với hoạt động bán lẻ, người bán hàng không có quá trình thăm dò nhu cầu trước khi tiếp xúc với người tiêu dùng. Khách hàng có khả năng tài chính, có động cơ mua hàng cụ thể và có quyết định tương đối độc lập. Hàng hóa đa dạng và phong phú: Phần lớn các nơi bán lẻ cung cấp nhiều loại hàng hóa khác nhau, vừa đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, vừa tăng cường hiệu quả kinh doanh trong từng kỳ.
Trong các cửa hàng chuyên doanh, tùy theo từng chủng loại sản phẩm, nhà sản xuất còn đa dạng hóa thành nhiều mặt hàng có kích cỡ, chất lượng, màu sắc, kiểu dáng… khác nhau để khách hàng có nhiều sự lựa chọn của khách hàng. - Chuỗi hệ thống bán lẻ : “ là chỉ một hệ thống gồm 2 siêu thị, cửa hàng trở “ lên có cùng một quan điểm và loại hình kinh doanh với một tên gọi và thực hiện chúng; được chỉ đạo, quản lý điều hành theo một định hướng và nội dung thống nhất tập trung từ một văn phòng chính. Về hàng hóa, các siêu thị này có cùng một chủng loại hàng hóa kinh doanh được bán với giá thống nhất, ngoài ra nó có thể bổ sung thêm những hàng hóa khác phù hợp với yêu cầu của từng địa phương nơi siêu thị hoạt động. Hoạt động thu mua và phân phối hàng hóa của chuỗi hệ thống bán lẻ được tổ chức tập trung trên quy mô lớn .” [26] ” Chuỗi hệ thống bán lẻ bao gồm nhiều hình thức khác nhau như chuỗi siêu thị bán lẻ, hệ thống trung tâm thương mại và cả hệ thống thương mại điện tử bán lẻ.Đặc điểm chủ yếu để phân biệt một hệ thống bán lẻ được tổ chức theo mô hình chuỗi với các cửa hàng, siêu thị hoạt động đơn lẻ là: 10 - Về số lượng các cửa hàng, siêu thị trong hệ thống, một chuỗi siêu thị nhỏ “ thường có từ 2 - 10 cửa hàng, chuỗi siêu thị lớn có từ 11 siêu thị trở lên.
”” - Về chủng loại hàng hóa, các cửa hàng, siêu thị trong chuỗi thường bán cùng “ một chủng loại hàng hóa với giá thống nhất tại tất cả các siêu thị thành viên. Đây là những mặt hàng mà thị trường và khách hàng có nhu cầu cao, thường xuyên và đem lại doanh thu lớn. Các mặt hàng này thường là những nhãn hiệu đã nổi tiếng, kiểu dáng, kích cỡ, màu sắc phù hợp và được thừa nhận bởi những nhóm khách hàng mục tiêu của chuỗi. Các chuỗi siêu thị lớn còn quan tâm xây dựng những nhãn hàng riêng mang tính đặc trưng riêng có của hệ thống mình như là một phần trong chiến lược sản phẩm của chuỗi.
”” - Về tổ chức, sở hữu và điều hành, các siêu thị này được thống nhất và tập trung theo mô hình giống nhau. - Tổ chức mua hàng trên quy mô lớn để thu hút được sự ưu đãi về giá cả, sự hỗ trợ của các nhà cung cấp trong các hoạt động marketing, tiết giảm chi phí mua hàng…là phần quan trọng trong chính sách mua hàng tập trung của toàn chuỗi. ” “ Hiện tại đối với công ty Siêu Thị Hà Nội, chuỗi hệ thống bán lẻ được thể hiện chủ yếu qua chuỗi siêu thị bán lẻ. Chuỗi siêu thị là một số siêu thị của một hoặc nhiều doanh nghiệp liên kết với nhau có đặc điểm kinh doanh tương tự nhau về hàng hóa, giá cả, quản lý, biển hiệu hoặc biểu hiện bên ngoài và thường có một tên gọi thống nhất .2 Định nghĩa , đặc trưng, vai trò của siêu thị và chuỗi siêu thị * Siêu thị : “Siêu thị là một loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại, hình thành và phát triển trong mối quan hệ mật thiết với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá mạnh mẽ”.
Siêu thị là một loại cửa hàng riêng nằm trong hệ thống mạng lưới bán lẻ hàng hoá và dịch vụ, với mặt hàng kinh doanh chủ yếu là các hàng hoá thuộc nhu cầu hàng ngày. ” Ở Việt Nam, lần đầu tiên siêu thị chính thức xuất hiện là vào năm 1993 khi Công ty Vũng Tàu Sinhanco khai trương Siêu thị Minimart. 11 Trên thế giới hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về siêu thị. Ở mỗi quốc gia khác nhau người ta lại có khái niệm khác nhau về siêu thị.
Chẳng hạn: - Tại Pháp, “ Siêu thị là cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ có diện tích từ 400 m2 đến 2500 m2 chủ yếu là bán hàng thực phẩm và vật dụng gia đình ( Theo Marc Benoun, “ Marketing: Savoir et savoir – faire”, 1991). - Tại Hoa Kỳ, “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn, có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hoá bán ra lớn, đảm bảo thoả mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa” ( Theo Philips Kotker “ Marketing căn bản”). Hoặc đơn giản hơn là: “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, thức uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác” ( Theo Melvin Morgenstein và Harriet Strongin “ Modern Retailing – Management Principales and Practices). - Tại Anh, “Siêu thị là cửa hàng bách hoá bán tạp phẩm, bán thực phẩm, đồ uống và các loại hàng hoá khác, thường đặt tại thành phố, dọc đường cao tốc hoặc trong khu buôn bán có diện tích khoảng từ 4.” “ Tại Việt Nam, “ siêu thị” là từ được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài – “supermarket” ( tiếng Anh) hay “supermarché” ( tiếng Pháp), trong đó “super” có nghĩa là “siêu” và “market” là “chợ”.
Trong Quy chế “ siêu thị, trung tâm thương mại” của Bộ Thương mại định nghĩa: “ siêu thị là loại cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có phương thức tự phục vụ văn minh thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm của khách hàng”.[23] “ Phân loại siêu thị theo quy mô : Việc phân loại siêu thị theo quy mô được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng và họ dựa trên hai tiêu chí để xác định, đó là diện tích mặt bằng bán hàng và tập hợp hàng hóa của siêu thị. Ở Việt Nam, ta có thể ” chia siêu thị thành các loại : 12 Bảng 1. Phân loại siêu thị Tiêu chuẩn tối thiểu về Hạng Loại hình Diện tích kinh doanh (m2) Số lượng tên hàng Siêu thị tổng hợp 5.000 Hạng I Siêu thị chuyên doanh 1.000 Siêu thị tổng hợp 2.000 Hạng II Siêu thị chuyên doanh 500 1.000 Siêu thị tổng hợp 500 4.000 Hạng III Siêu thị chuyên doanh 250 500 (Nguồn: Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại) * Chuỗi siêu thị: được hiểu là nhiều siêu thị trải rộng được quản lý và điều hành theo định hướng và nội dung thống nhất.[26] - Về phương thức bán hàng “ Các siêu thị đã sáng tạo ra phương thức bán hàng tự phục vụ mà ngày nay được áp dụng cho mọi loại cửa hàng hiện đại. Theo phương thức bán hàng này khách hàng được tự do tiếp cận hàng hóa để ngỏ trong gian hàng, tự mình xem xét và lựa chọn hàng mà không cần sự giúp đỡ của người bán, trả tiền ở nơi thu tiền đặt ở lối ra của gian hàng.
Còn người bán chỉ thực hiện chức năng là cố vấn cho khách hàng, bày hàng và kiểm tra sự an toàn hàng hóa trong gian hàng. ” - Về phương thức thanh toán “ Phương thức thanh toán tại chuỗi siêu thị rất thuận tiện. Hàng hóa được gắn mã vạch, mã số được đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào. Nhân viên thanh toán sẽ dùng máy quét để đọc giá, tính tiền bằng máy và tự động in hóa đơn cho khách hàng.