Chương 1 KHÁI QUÁT VÉ LAO ĐỘNG TRẺ EM 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm trẻ em Trên thực tế, khái niệm trẻ em được hiểu theo trên nhiều phương diện của các ngành khoa học khác nhau. Trong tâm lý học, khái niệm trẻ em được dùng dé chỉ giai đoạn đầu của sự phát trién tâm sinh lý, nhân cách hình thành của một con người." Trong triết học, trẻ em được đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc đều tùy thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Với góc độ của chuyên ngành xã hội học, trẻ em được xác định là người có vi thế, vai trò xã hội không giống như người lớn, trẻ em là nhóm người cần được xã hội quan tâm, tạo điều kiện nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển. Về khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo độ tuôi. Trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý rất đăc thù, tuy rất dé thay đổi nhưng theo từng giai đoạn trẻ em rất dễ thích nghi, dé uốn nắn. Cũng vì trẻ em chưa phát triển đầy đủ về thé chất và trí tuệ nên đây là lớp người dé bị tôn thương nhất.
Do đó, việc xác định trẻ em theo độ tuổi là điều cần thiết nhằm tạo nên hành lang pháp lý tốt nhất nhằm bảo vệ trẻ em một cách tốt nhất khởi những nguy cơ ảnh hưởng từ xã hội ảnh hưởng đến quá trình phát triển lành mạnh của trẻ em. Theo quy định Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là bat kỳ người nào dưới 18 tuổi. Day là một quy định mở khi quy định mức tran 18 tuổi là mức tiêu chuẩn nhưng không phải cô định, bắt ” Đỗ Thuý Huệ (2017) “Pháp luật về xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở Việt Nam” Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 7 © Nguyễn Thị Vân Anh (2014), “Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xoá bỏ lao động trẻ em” Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
6 7 Liên hợp quốc (1989), Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Newyork 7 buộc với mọi quốc gia, như vậy mỗi quốc gia thành viên có thé xác định độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn so với quy định ké trên phụ thuộc vào điều kiện của chính từng quốc gia. Trong pháp luật Việt Nam, Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới mười sáu tuổi ”.Š Như vậy, trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuôi trẻ em được pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những người dưới 16 tuổi. Có thé nhận thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam quy định độ tudi trẻ em thấp hơn với Công ước quốc tế nhưng quy định này vẫn được coi là phù hợp đo tính chất mở của Công ước và điều kiện xã hội, kinh tế tại Việt Nam. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn có nhiều ngành luật khác cũng đề cập tới van đề trẻ em như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự,.
Do mỗi ngành luật đều là một ngành luật độc lập nên từng ngành luật cụ thể sẽ đều có những cách tiếp cận khái niệm trẻ em khác nhau. Khái niệm lao động trẻ em Hiện nay, trên phạm vi quốc tế vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, rõ ràng về lao động trẻ em. Không phải mọi công việc hằng ngày trẻ em làm đều coi là lao động trẻ em. Khái niệm lao động trẻ em thường bị nhằm lẫn với khái niệm trẻ em lao động do đó khái niệm lao động trẻ em cần được tiếp cận ở góc độ tính chất công việc và mức độ làm công việc mà chủ thể phải làm.
Trong luật pháp quốc tế, lao động trẻ em là thuật ngữ thường được ding dé chỉ tình trạng một người dưới 18 tuổi phải làm các công việc có hại đến tinh than, thé chat, nhân cách của trẻ em, hoặc phải làm việc từ độ tuổi nhỏ khiến trẻ em mất đi cơ hội học tập và phát triển. Đề hiểu rõ hơn về khái niệm lao động trẻ em, cần phân biệt với một số khái niệm khác có liên quan, cụ thể như sau: Trẻ em lao động (child labourer): “Thudt ngữ này di liền với thuật ngữ lao động trẻ em (child labour), chỉ những trẻ em bị rơi vào vòng xoáy của lao động trẻ em, hay nói cách khác là nạn nhân của lao động trẻ em”? 8 Quốc hội, Luật trẻ em 2016, Hà Nội ° Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế Hà Nội, Bộ tài liệu tập huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, Ha Nội, 2011, tr. 5 8 Trẻ em làm việc (child work) là thuật ngữ “dé cập đến việc trẻ em tham gia lam các công việc khác nhau, thông thường là nhẹ nhàng, có thể chấp nhận được, được đưa ra nhằm mục dich phân biệt với khai niệm lao động trẻ em mà được coi là chỉ những công việc không thé chấp nhận được doi với trẻ em. ”19 Trẻ em tham gia làm việc bao gồm các hoạt động không làm hại tới, và có thé góp phần vào sự phát triển lành mạnh của trẻ trong khi lao động trẻ em bao gồm tất cả những loại công việc do trẻ em đến 18 tuổi thực hiện mà có hại cho sức khỏe, tinh than, trí tuệ hay sự phát triển về mặt xã hội và ảnh hưởng tới việc học tập của trẻ em.
Trẻ em làm việc và trẻ em lao động không gây những tác động tiêu cực cho sự phát triển của trẻ vì đó là những việc làm tự nguyện, phi lợi nhuận hay các công việc trong gia đình. Những công việc này cũng cho trẻ những kỹ năng, kinh nghiệm trong cuộc sống. Trái lại, lao động trẻ em hướng tới lợi nhuận, trẻ em phải làm việc liên tục trong những ngành công nghiệp làm ra hàng hóa. Điều đó ảnh hưởng lớn tới sức khỏe, cơ hội học tập và phát triển của trẻ.
Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế (economically active children) là thuật ngữ được sử dụng phô biến trong những công tác điều tra, thông kê về lao động việc làm nói chung và lao động nói riêng ở nhiều quốc gia trên thé giới. Day là một khái niệm “chi các công việc sinh lợi do trẻ em thực hiện, bất kế các công việc đó có hay không được trả lương, hợp pháp hay bat hợp pháp, thường xuyên hay không thường xuyên, thời gian làm việc ngắn hay trọn thời gian”1!. Những công việc vặt, không sinh lời mà trẻ em thường làm tại gia đình hoặc ở trường không thuộc phạm trù của khái niệm này, tuy nhiên trên thực tế, một số trẻ em có thé phải dành nhiều thời gian cho những công việc kể trên, ảnh hưởng đến thời gian học tập, vui chơi, giải chi. Dé xét trẻ em có tham gia hoạt động kinh tế hay không cần lưu ý đặc biệt về tiêu chí những công việc đó có sinh ra lợi nhuận ít nhất trong một giờ vào bất kỳ ngày nào trong tuần hay không.
Như vậy, trẻ em được coi là tham gia vào hoạt động kinh tế phải phụ thuộc vào tính chất công việc, đặc diém môi trường làm việc, độ tuôi và thời gian làm việc cua trẻ. 10 Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế Hà Nội (201 1), Bộ tài liệu tập huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, Hà Nội, 2011, tr. 5 11 Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế Hà Nội (201 1), Bộ tài liệu tập huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, Hà Nội, 2011, tr. 6 9 Pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa chính thức về lao động trẻ em nhưng có những quy định liên quan đến lao động trẻ em: Khoản 7, Điều 4 Luật trẻ em 2016 định nghĩa về bóc lột trẻ em; Điều 26, Luật trẻ em 2016 quy định quyền trẻ em được bảo vệ dé không bi bóc lột sức lao động; mục 1 chương XI BLLD 2019 quy định về khái niệm, nguyên tắc, cách thức sử dụng LĐCTN hợp pháp.
Về độ tuổi, sau khi Công ước về quyền trẻ em và Công ước số 182 về cắm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất của ILO được ban hành, trong đó đưa ra định nghĩa trẻ em là những người dưới 18 tuổi thì độ tuổi này được cộng động quốc tế coi là mốc chuân đề xác định phạm vi chủ thé của khái niệm lao động trẻ em. Về tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Nói cách khác, lao động trẻ em đề cập đến những công việc và điều kiện làm việc không thể chấp nhận được đối với trẻ em. Trên thực tế, nhận thức về công việc có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát trién toàn diện của trẻ em không đồng nhất do sự khác biệt về hoàn cảnh, kinh tế, xã hội, quan niệm truyền thống, phong tục tập quán của mỗi quốc gia.
Do đó, rất khó dé đưa ra một định nghĩa thống nhất về lao động trẻ em. Dac điểm lao động trẻ em Đối với LDCTN, có nhiều tiêu chí khác nhau dé phân loại như về độ tuổi, trình độ chuyên môn, điều kiện môi trường làm việc,. Trong mối tương quan với PLQT và quốc gia, tiêu chí phân loại về độ tuôi được đặc biệt chú trọng. Theo đó, pháp luật lao động Việt Nam cũng xác định LDCTN bao gồm nhóm lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, từ đủ 13 đến chưa đủ 15 tuổi và người chưa đủ 13 tuổi.
Với đặc điểm của giới hạn độ tuôi này, luật có những điều chỉnh riêng phù hợp. Thứ nhất, dau hiệu dé nhận diện nhất là độ tuôi của lao động chưa đủ 18 tuổi. Đây là độ tuôi đang hình thành nhân cách, chưa phát triển toàn diện về thé lực, trí lực đáp ứng yêu cầu về nhận thức và điều khiển hành vi cũng như khả năng tham gia tat cả các quan hệ lao động. Trong sự phát triển tự nhiên, nhóm đối tượng này sẽ trở thành những lao động thành niên trong tương lai, những nhân tố lao động chính trong xã hội, vì vậy, ngoài sự đảm bảo quyền lao động trong giới hạn cần thiết, sự điều chỉnh của pháp luật còn nhằm mục tiêu phát triển, bồi đưỡng, nâng cao năng lực lao động cho đối tượng này.
10 Thứ hai, về sức khoẻ, thé trạng của người chưa thành niên tiếp cận gần tương đương với người đã thành niên.