CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm kiệt sức Kiệt sức nghề nghiệp (occupational burnout) được mô tả lần đầu tiên vào năm 1974 bởi nhà tâm lý học lâm sàng Herbert Freudenberger, người thường tình nguyện tại một phòng khám miễn phí ở thành phố New York.
Theo thời gian, Freudenberger quan sát thấy sự suy giảm cảm xúc và các triệu chứng tâm lý kèm theo trong số các nhân viên tình nguyện của phòng khám. Từ đó, ông gọi hiện tượng là kiệt sức. Freudenberger định nghĩa sự kiệt sức là tình trạng mệt mỏi do sử dụng quá mức về năng lượng, đặc trưng bao gồm các triệu chứng khó chịu, mệt mỏi, thất vọng, tự nghi ngờ và giảm hiệu quả (18). Khái niệm kiệt sức trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sau đó được hiểu như là một cách để mô tả một cách sự căng thẳng về cảm xúc và tâm lý của nhân viên các cơ sở y tế (18).
Từ đó, thuật ngữ kiệt sức đã được sử dụng để mô tả căng thẳng có liên quan đến công việc trong bất kỳ môi trường thực hành y tế nào, từ bệnh viện công cho đến các tổ chức y tế các cấp trên khắp thế giới (19, 20). Một nghiên cứu của Maslach và cộng sự (cs) đã xây dựng khái niệm kiệt sức là “Một phản ứng của hội chứng căng thẳng tâm lý kinh niên giữa các cá nhân trong công việc. Ba nguyên nhân chính của phản ứng này là do cảm giác mệt mỏi áp đảo, cảm giác hoài nghi, tách rời khỏi công việc và một cảm giác làm việc không hiệu quả” (2). Dựa theo công trình của Maslach và cs từ thập niên 1980, các nhà nghiên cứu đã mô tả chi tiết hơn về kiệt sức.
Kiệt sức là trạng thái tâm lý bao gồm ba thành tố: (1) cạn kiệt cảm xúc, (2) tính tiêu cực và (3) hiệu quả của cá nhân. Do đó để đánh giá được mức độ kiệt sức cần phải đánh giá thông qua ba thành tố này (21). Khái niệm kiệt sức của Maslach được WHO chấp nhận và sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, cũng có nhiều tác giả khác nhau định nghĩa thuật ngữ kiệt sức.
Shirom và Melamed đã định nghĩa khái niệm kiệt sức là tổng hợp ba trạng thái sự kiệt sức về mặt thể chất, sự mệt mỏi trong nhận thức và sự cạn kiệt cảm xúc (22). Khái niệm 5 này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của yếu tố sức khỏe thể lý trong tình trạng kiệt sức. Từ trạng thái kiệt sức, các tác giả đã xây dựng khái niệm “Hội chứng kiệt sức hay - B.S” (Burn Out Syndrome) theo tiếng Anh hoặc “Kaloshi” (chết vì mệt mỏi lúc làm việc) ở Nhật Bản cũng tương tự như hội chứng kiệt sức trong nghề nghiệp. Tình trạng Kaloshi này có thể dẫn tới tự sát (23).
Tác động của kiệt sức 1. Tác hại đến sức khỏe Các hậu quả của kiệt sức đã được mô tả là gây ảnh hưởng đến sức khỏe thể lý như thường xuyên nhức đầu, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa, và khó thở cho đến sức khỏe tâm thần như thất vọng, bực bội, khó khăn để giữ trong hoài nghi, cảm xúc (24). Nghiên cứu của Toker và cs (2012) tiến hành trên 8838 nhân viên tại Israel chỉ ra rằng kiệt sức có liên quan đến bệnh tim mạch vành và các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Nghiên cứu này cho thấy kiệt sức làm gia tăng nguy cơ bị các bệnh tim mạch lên 1,41 lần (22).
Một số nghiên cứu tâm lý cho thấy kiệt sức ảnh hưởng đến hiện tượng suy giảm chức năng nhận thức bao gồm khả năng duy trì chú ý và trí nhớ (25). Nghiên cứu phân tích hợp của Salvagioni (2017) nhận thấy kiệt sức là một yếu tố dự báo đáng kể về các vấn đề thể lý sau: tăng cholesterol trong máu, tiểu đường tuýp 2, bệnh mạch vành, nhập viện do rối loạn tim mạch, đau cơ xương,, mệt mỏi kéo dài, đau đầu, các vấn đề về đường tiêu hóa, các vấn đề về hô hấp, chấn thương nặng và tử vong dưới 45 tuổi. Các tác động tâm lý của kiệt sức là mất ngủ, các triệu chứng trầm cảm, sử dụng thuốc hướng thần và chống trầm cảm, nhập viện vì rối loạn tâm thần và các triệu chứng sức khỏe tâm lý (26). Tác hại đến hiệu quả công việc Sự kiệt sức đến từ tình trạng stress trường diễn và thường xuyên do các y lệnh dẫn đến tình trạng khó thích ứng với công việc khi có sự thay đổi (24).
Các nhà tâm lý học tổ chức khi nghiên cứu đã nhận thấy kiệt sức với sự gia tăng tình trạng cạn 6 kiệt cảm xúc kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hứng thú với công việc đang được thực hiện, giảm mức độ thực hiện công việc, cảm giác bất lực (27). Liên quan đến các vấn đề sức khỏe tâm thần, những nghiên cứu trên bác sĩ cả bác sĩ đa khoa và bác sĩ răng hàm mặt đều cho thấy có rất nhiều triệu chứng của hội chứng kiệt sức tương tự như rối loạn trầm cảm (một rối loạn tâm thần phổ biến) với sự nổi bật của tình trạng thiếu hứng thú trong công việc. Từ đó làm giảm hiệu suất công. Dấu hiệu tâm lý nổi bật của sự kiệt sức nghề nghiệp được thể hiện thông qua sự hoài nghi trong các mối quan hệ công việc, chẳng hạn như đồng nghiệp, khách hàng và với tổ chức (28, 29).
Aamodt (2015) nhận thấy tình trạng mất năng lượng ở nhân viên có hội chứng kiệt sức nghề nghiệp dẫn đến năng suất giảm. Những nhân viên này có tỉ lệ đi làm trễ cao hơn và gia tăng cảm giác sợ hãi khi đến công sở. Họ có thể bị giảm sự tập trung, hay quên, tăng cảm giác thất vọng hoặc cảm giác bị quá sức khi nhận công việc. Họ có thể phàn nàn và cảm thấy tiêu cực, hoặc cảm thấy thờ ơ và tin rằng họ có ít tác động đến đồng nghiệp và môi trường của họ (27).
Trạng thái mệt mỏi, cạn kiệt tinh thần trong công việc này kéo dài không chỉ kéo theo việc giảm chất lượng cuộc sống ở nhân viên y tế mà còn làm trì trệ công việc hằng này của họ. Moss và cs (2016) cùng với West và cs (2018) đều cùng đưa ra kết luận rằng tình trạng kiệt sức càng kéo dài, sự hài lòng công việc càng giảm kéo theo các hệ lụy như năng suất, hiệu quả công việc và tình trạng về hưu sớm ở nhân viên y tế (9, 30). Phương pháp điều trị Kiệt sức là một trạng thái tâm lý có thể được hỗ trợ thông qua các liệu pháp tâm lý hoặc các chương trình sinh hoạt, giảng dạy nhóm cho nhân viên y tế. Điều trị bằng liệu pháp tâm lý hành vi – nhận thức rất hiệu quả đối với các căng thẳng trong công việc, qua đó cải thiện khí sắc của nhân viên y tế và giúp họ ứng phó tốt hơn (31).
Một nghiên cứu khác của Bragard và cs (2010) đã phổ biến cách quản lý căng thẳng cùng với đào tạo kỹ năng giao tiếp cho nhân viên y tế. Nhóm nghiên cứu đã xây dựng chương trình can thiệp bằng cách triển khai các bài giảng về mục đích, 7 chức năng và tính đặc hiệu của giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân trong chăm sóc ung thư và về cách xử lý bệnh nhân ung thư. Phần thứ hai của can thiệp tập trung vào sắm vai dựa trên các vấn đề lâm sàng do những người tham gia đưa ra, tiếp theo là các cuộc thảo luận về từng trường hợp. Kết quả cho thấy sự gia tăng đáng kể về hiệu quả làm việc và giảm căng thẳng trong giao tiếp (32).
Công cụ đánh giá kiệt sức nghề nghiệp 1. Đo lường khái niệm kiệt sức Kể từ khi được đưa ra thảo luận lần đầu tiên vào năm 1974, khái niệm kiệt sức dần dần được chú trọng nhiều hơn ở nhân viên không chỉ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe mà còn trong các lĩnh vực khác. Các nhà nghiên cứu bắt đầu tiến hành nghiên cứu định tính sâu rộng hơn về hiện tượng này, bao gồm các cuộc phỏng vấn, khảo sát và quan sát thực địa nhân viên trong các ngành nghề chăm sóc sức khỏe và dịch vụ con người. Các khái niệm ban đầu không có quá nhiều sự khác biệt giữa trạng thái kiệt sức và căng thẳng công việc.
Sau đó kiệt sức được định nghĩa như là một triệu chứng của rối loạn trầm cảm. Tuy nhiên, căng thẳng là những kích thích đôi lúc mang tính tích cực, ví dụ như khi chúng ta chuẩn bị có 1 bài kiểm tra quan trọng thì những căng thẳng có thể khiến sự tập trung tốt hơn thì kiệt sức lại là cách phản ứng tiêu cực của cơ thể và tâm trí. Khái niệm kiệt sức được định nghĩa theo nhiều cách khách nhau. Dựa trên khái niệm đó sẽ có những lý thuyết khách nhau lý luận về việc bao nhiêu khía cạnh sẽ được đánh giá để định nghĩa về kiệt sức.
Hầu hết các định nghĩa đều thống nhất với nhau về đặc điểm “cạn kiệt”. Nó cũng đã được mô tả là hao mòn, mất năng lượng, suy kiệt, suy nhược và mệt mỏi. Mặc dù đôi khi sự kiệt sức này là một thể chất, nhưng thường thì kiệt sức về tâm lý hoặc cảm xúc được mô tả là trung tâm của sự kiệt sức ví dụ như: vô cảm và lo lắng. Một khía cạnh khác của các định nghĩa kiệt sức cũng được thảo luận nhiều qua các nghiên cứu là sự thay đổi tiêu cực trong phản ứng với người khác: thái độ tiêu cực hoặc không phù hợp đối với người bệnh, tỏ ra cáu kỉnh, mất lý tưởng và bỏ cuộc.
Một khía cạnh thứ ba được tìm thấy trong các định nghĩa về kiệt sức nghề nghiệp là các phản ứng tiêu cực đối với những 8 thành tựu cá nhân của và của người khác, cũng được mô tả như là cơn trầm cảm, lòng tự trọng thấp, tinh thần thấp, năng suất hoặc khả năng giảm và không có khả năng đối phó (33). Để đánh giá kiệt sức nghề nghiệp, các chuyên gia tâm lý và bác sĩ tâm thần đã xây dựng các thang đo khác nhau. Thang đo kiệt sức nghề nghiệp Thang đo kiệt sức Oldenburg (Oldenburg Burnout Inventory - OLBI) được xây dựng năm 2005 bởi hai tác giả người Hà Lan là Demerouti và Bakker (34). Sau đó thang đo này đã được dịch sang tiếng Anh và nghiên cứu chuẩn hóa để đo lường sự kiệt sức của bác sĩ ở Hoa Kỳ (35).
Thang đo này bao gồm 16 câu hỏi và chia thành 2 thang nhỏ là: kiệt sức/mệt mỏi và thiếu gắn kết. Tuy nhiên thang đo này không có khoảng thời gian chính thức về thời gian xuất hiện các triệu chứng.