Luận văn thực trạng kiến thức vàthực hành cho trẻ bú sớm sau sinh của sản phụ tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2020

Chuyên khảo y tế phân tích Luận văn thực trạng kiến thức vàthực hành cho trẻ bú sớm sau sinh của sản phụ tại bệnh viện phụ sản, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo chuyên đề tốt nghiệp

2020

71
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3. THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HÀNH CHO TRẺ BÚ SỚM VÀ BÚ MẸ HOÀN TOÀN SAU KHI SINH

4. CÁC YẾU TỐ TỪ MẸ

5. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Giới thiệu về sữa mẹ và NCBSM

1.2. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ

1.3. Khuyến nghị về nuôi dưỡng trẻ nhỏ

1.4. Cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tầm Quan Trọng của Nuôi Con Bằng Sữa Mẹ Sớm

Việc cho trẻ bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu là những can thiệp hiệu quả nhất để tăng cường sức khỏe và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Nghiên cứu cho thấy nếu 90% bà mẹ thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ, có thể cứu sống 1,3 triệu trẻ em mỗi năm. Việc cho trẻ bú sớm giúp giảm 22% số ca tử vong ở trẻ trong tháng đầu sau sinh. Sữa non, nguồn sữa quý giá trong vài ngày đầu sau sinh, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và kháng thể, giúp trẻ chống lại bệnh tật. Mặc dù lợi ích đã được chứng minh, kiến thức và thực hành của nhiều bà mẹ vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc bỏ lỡ những giọt sữa non quý giá và ảnh hưởng đến quá trình nuôi con bằng sữa mẹ sau này.

1.1. Lợi ích then chốt của sữa mẹ đối với trẻ sơ sinh

Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa và hấp thu, đáp ứng mọi nhu cầu của trẻ trong 6 tháng đầu đời mà không cần thêm bất kỳ thức ăn hay nước uống nào khác. Sữa mẹ chứa chất béo, đạm, carbohydrates, vitamin, muối khoáng và nước với tỷ lệ cân đối. Đặc biệt, sữa mẹ chứa DHA và ARA, hai axit béo quan trọng cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ. Các thành phần này giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ.

1.2. Tác động tích cực của nuôi con bằng sữa mẹ đến sức khỏe mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ tốt cho trẻ mà còn mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe của mẹ. Việc cho con bú ngay sau sinh giúp tử cung co hồi tốt, giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ. Các bà mẹ cho con bú ít có nguy cơ mắc ung thư vú, buồng trứng và loãng xương hơn. Ngoài ra, nuôi con bằng sữa mẹ tăng cường khả năng chuyển hóa, giúp mẹ phục hồi sức khỏe nhanh chóng và tăng cường tình cảm mẹ con.

II. Thách Thức Thực Trạng Kiến Thức và Thực Hành NCBSM Sớm

Tại Việt Nam, mặc dù hầu hết các bà mẹ đều nuôi con bằng sữa mẹ, tỷ lệ cho con bú sớm chỉ đạt khoảng 55%. Nhiều bà mẹ vẫn còn vắt bỏ sữa non trước khi cho con bú hoặc cho con ăn các thức ăn khác trước khi bú mẹ lần đầu. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường hỗ trợ và tư vấn cho các bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ để cải thiện tỷ lệ cho con bú sớmnuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn. Các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em cần ưu tiên cung cấp thông tin và hỗ trợ để đảm bảo trẻ nhận được nguồn dinh dưỡng tốt nhất.

2.1. Hạn chế trong kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ

Nhiều sản phụ còn thiếu kiến thức về lợi ích của sữa non, thời điểm cho trẻ bú sớm và tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Một số bà mẹ vẫn còn tin vào những quan niệm sai lầm về số lượng và chất lượng của sữa non, dẫn đến việc bỏ lỡ cơ hội cung cấp nguồn dinh dưỡng quý giá cho trẻ. Việc thiếu thông tin và kiến thức đúng đắn là một trong những rào cản lớn nhất đối với việc thực hành nuôi con bằng sữa mẹ thành công.

2.2. Khó khăn trong thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tại bệnh viện

Tại các bệnh viện, quy trình thăm khám thai phụ, theo dõi sản phụ sau sinh, tư vấn dinh dưỡng và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ còn tồn tại nhiều bất cập. Cơ sở hạ tầng chật hẹp và số lượng sản phụ đến khám và sinh con ngày càng tăng gây khó khăn cho việc cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ đầy đủ. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cho trẻ bú sớm và duy trì nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của các bà mẹ.

III. Nghiên Cứu Thực Trạng NCBSM Sớm tại Bệnh Viện Phụ Sản HN

Nghiên cứu về thực trạng kiến thức và thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020 nhằm đánh giá tình hình hiện tại và đề xuất các giải pháp cải thiện. Nghiên cứu tập trung vào việc mô tả kiến thức và thực hành của sản phụ về cho trẻ bú sớmnuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn, xác định tỷ lệ thực hành thành công trong thời gian nằm viện và tìm hiểu các yếu tố liên quan. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả.

3.1. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ sớm

Nghiên cứu hướng đến việc mô tả kiến thức và thực hành của sản phụ về cho trẻ bú sớmnuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn sau sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020. Đồng thời, xác định tỷ lệ thực hành cho trẻ bú sớmnuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện của các sản phụ sau sinh. Nghiên cứu cũng nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ để có cơ sở đề xuất các giải pháp cải thiện.

3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Nghiên cứu xem xét các yếu tố từ mẹ (tuổi, trình độ, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, số lần sinh), từ con (Apgar, cân nặng, giới tính, sức khỏe), yếu tố gia đình (phong tục tập quán, áp lực gia đình, hỗ trợ từ gia đình), yếu tố môi trường (nguồn thông tin, quảng cáo sữa công thức) và yếu tố bệnh viện (nguồn nhân lực, quy định hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ, cơ sở vật chất). Việc xác định các yếu tố này giúp xây dựng các can thiệp phù hợp và hiệu quả.

IV. Giải Pháp Hướng Dẫn NCBSM Sớm Hiệu Quả Tại Bệnh Viện

Để cải thiện thực hành cho trẻ bú sớmnuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn, cần có các giải pháp đồng bộ từ bệnh viện, cán bộ y tế và gia đình. Bệnh viện cần tăng cường cơ sở vật chất, đào tạo nhân viên y tế về tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ và xây dựng quy trình hỗ trợ sản phụ sau sinh. Cán bộ y tế cần cung cấp thông tin chính xác và kịp thời cho sản phụ, hướng dẫn kỹ thuật cho con bú đúng cách và giải đáp các thắc mắc. Gia đình cần tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ tinh thần cho sản phụ.

4.1. Vai trò của Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội trong hỗ trợ NCBSM

Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội cần tăng cường cơ sở vật chất, đảm bảo không gian riêng tư và thoải mái cho sản phụ cho con bú. Bệnh viện cần xây dựng quy trình tư vấn và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ chuẩn hóa, cung cấp thông tin đầy đủ và dễ hiểu cho sản phụ. Ngoài ra, bệnh viện cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ nhân viên y tế tham gia các khóa đào tạo về tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ.

4.2. Nâng cao năng lực tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ cho NVYT

Nhân viên y tế cần được đào tạo về kỹ năng tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ, bao gồm cách nhận biết các dấu hiệu trẻ đói, cách cho con bú đúng tư thế, cách xử lý các vấn đề thường gặp khi cho con bú (tắc tia sữa, đau đầu vú). Nhân viên y tế cần tạo môi trường thân thiện và cởi mở để sản phụ cảm thấy thoải mái chia sẻ các khó khăn và thắc mắc. Việc cung cấp thông tin và hỗ trợ kịp thời giúp sản phụ tự tin hơn trong việc nuôi con bằng sữa mẹ.

4.3. Tầm quan trọng của gia đình trong việc hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ

Gia đình cần tạo điều kiện thuận lợi cho sản phụ nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe. Các thành viên trong gia đình cần chia sẻ công việc nhà và chăm sóc trẻ để sản phụ có thời gian cho con bú và nghỉ ngơi đầy đủ. Gia đình cần tìm hiểu thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ để có thể hỗ trợ sản phụ một cách tốt nhất. Sự ủng hộ và động viên từ gia đình là nguồn động lực lớn giúp sản phụ vượt qua các khó khăn và duy trì nuôi con bằng sữa mẹ thành công.

V. Kết Luận Hướng Tới Tương Lai NCBSM Sớm Bền Vững

Nâng cao kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ sớm là một quá trình liên tục và cần sự phối hợp chặt chẽ giữa bệnh viện, cán bộ y tế, gia đình và cộng đồng. Việc đầu tư vào các chương trình tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ, đào tạo nhân viên y tế và tăng cường truyền thông về lợi ích của sữa mẹ sẽ góp phần cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của xã hội. Cần tiếp tục nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của các can thiệp để có những điều chỉnh phù hợp và đảm bảo nuôi con bằng sữa mẹ trở thành một thực hành phổ biến và bền vững.

5.1. Đề xuất các can thiệp cải thiện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Cần xây dựng các chương trình tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ cá nhân hóa, phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của từng sản phụ. Tăng cường sử dụng các kênh truyền thông đa dạng (tờ rơi, poster, video, mạng xã hội) để cung cấp thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ một cách dễ dàng và tiếp cận được nhiều người. Tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo về nuôi con bằng sữa mẹ cho các bà mẹ mang thai và sau sinh.

5.2. Tầm nhìn về một cộng đồng nuôi con bằng sữa mẹ khỏe mạnh

Hướng tới một cộng đồng nơi mọi bà mẹ đều được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng nuôi con bằng sữa mẹ, được hỗ trợ và động viên từ gia đình và xã hội. Một cộng đồng nơi sữa mẹ được coi là nguồn dinh dưỡng quý giá nhất cho trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ. Một cộng đồng nơi nuôi con bằng sữa mẹ trở thành một nét đẹp văn hóa, thể hiện tình yêu thương và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái.

05/06/2025
Luận văn thực trạng kiến thức vàthực hành cho trẻ bú sớm sau sinh của sản phụ tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Giới thiệu về sữa mẹ và NCBSM 1. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ Theo định nghĩa của WHO, nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp nuôi dưỡng trẻ bằng cách cho trẻ trực tiếp bú sữa mẹ hoặc cho ăn sữa mẹ được vắt ra bằng các biện pháp thay thế khác [45]. Nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp nuôi dưỡng tự nhiên gắn liền với sự ra đời và trường tồn của nhân loại.

Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất bảo đảm cho sự sống còn và phát triển cho trẻ mà không một loại thức ăn nào có thể thay thế được. Kinh nghiệm thực tế và kết quả của nhiều nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng đặc biệt của việc nuôi con bằng sữa mẹ trong những tháng, năm đầu đời và ảnh hưởng lâu dài đối với sức khỏe của mỗi con người về sau. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ không những quan trọng đối với trẻ mà còn tác động đến sức khỏe bà mẹ, mang lại lợi ích cho cộng đồng và xã hội bằng những bằng chứng sau đây.2 Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất, hoàn hảo nhất cho sức khỏe, sự lớn lên và phát triển của trẻ Sữa mẹ có đủ tất cả các thành phần dinh dưỡng mà trẻ cần, bao gồm chất béo, đạm, carbohydrates, vitamin, muối khoáng và nước. Các thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ dễ tiêu hóa, dễ hấp thu, có sẵn trong bầu vú mẹ không mất công chuẩn bị.

Trong 6 tháng đầu đời, trẻ chỉ cần bú sữa mẹ là đáp ứng được đủ tất cả nhu cầu về dinh dưỡng cho trẻ, không cần thêm bất cứ thức ăn, nước uống khác kể cả nước lọc [37], [41]. Chất béo có trong sữa mẹ khoảng 3,5g trong 100 ml sữa, chiếm khoảng một nửa năng lượng do sữa cung cấp. Chất béo trong sữa mẹ chứa các acid béo cần thiết, giúp cho quá trình hoàn thiện não bộ, mắt và làm vững bền mạch máu, đặc biệt sữa mẹ có 2 loại axit béo không no là DHA (axit docosahexaenoic) và ARA (axit arachidonic) các vai trò rất quan trọng cho việc phát triển hệ thần kinh cho trẻ. Hai loại axit này không có ở trong bất cứ một loại sữa động vật nào [45].

Sữa mẹ có ít protein hơn sữa động vật nhưng cân bằng giữa các amio axit trong protein sữa mẹ là phù hợp giúp trẻ sự hấp thu tối đa. Cho trẻ ăn sữa với thành phần đạm nhiều hơn sẽ là tăng gánh nặng cho thận của trẻ vì thận của trẻ chưa 6 trưởng thành hoàn toàn, khó đào thải hết các chất dư thừa từ protein của sữa động vật. Sữa mẹ có chứa nhiều các chất giúp cơ thể trẻ phòng chống nhiễm khuẩn như globulin miễn dịch, globulin A có tác dụng bao phủ niêm mạc ruột ngăn không cho vi khuẩn xâm nhập vào ruột. Sữa mẹ có chứa nhiều bạch cầu và whey protein có tác dụng diệt vi khuẩn, vi rút và nấm gây bệnh.

Sữa mẹ còn cung cấp cho trẻ những kháng thể chống bệnh tật giúp trẻ khỏe mạnh, không hay bị tiêu chảy, viêm đường hô hấp và nếu có bị nhiễm bệnh thì cũng nhẹ hơn. Vitamin trong sữa mẹ đủ để cung cấp cho trẻ trong 4-6 tháng đầu khi bà mẹ được ăn uống đầy đủ, trừ vitamin D là vitamin cơ thể trẻ tự tổng hợp khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Lượng Fe và Zc trong sữa mẹ tuy ít nhưng có hoạt tính cao, dễ hấp thu nên vẫn thỏa mãn cho nhu cầu của trẻ [45]. Tỉ lệ Ca/P cân đối nên trẻ được nuôi dưỡng sữa mẹ ít bị còi xương và thiếu máu hơn những trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa bò [45].

Sữa mẹ có chứa một chất bảo vệ trẻ không tăng cân quá mức, vì thế nuôi con bằng sữa mẹ là giảm nguy cơ thừa cân và béo phì cho trẻ dưới 2 tuổi. Một số nghiên cứu cho thấy nếu trẻ được bú mẹ và ăn bổ sung hợp lý trong 2 năm đầu đời sẽ tạo cơ hội cho sự lớn lên và phát triển phù hợp cho trẻ [48]. Chính vì vậy, lựa chọn nuôi con bằng bằng sữa mẹ là cho trẻ một cơ hội tốt nhất để có một sự khởi đầu cuộc đời tốt đẹp, phát triển đầy đủ về thể lực và trí tuệ. Nuôi con bằng sữa mẹ góp phần bảo vệ sức khỏe cho người mẹ.

Bà mẹ cho con bú ngay sau khi đẻ sẽ giúp tử cung co hồi tốt, giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ. Các bà mẹ cho con bú ít có nguy cơ ung thư vú, buồng trứng, loãng xương hơn các bà mẹ không cho con bú. Hơn nữa cho con bú sẽ tăng cường khả năng chuyển hóa nên bà mẹ có thể hấp thu thức ăn một cách tốt nhất giúp bà mẹ phục hồi sức khỏe nhanh sau một thời gian dài tiêu tốn năng lượng cho mang thai và sinh đẻ. Cho con bú làm tăng gắn bó tình cảm mẹ con giảm căng thẳng, lo âu cho bà mẹ.

Cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽ làm bà mẹ chậm có kinh trở lại, vì vậy NCBSM còn có tác dụng như một biện pháp tránh thai tự nhiên [2]. Khuyến nghị về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Bằng chứng về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển của trẻ, giảm bệnh tật, tử vong cho trẻ đã được rất nhiều nghiên cứu khẳng định. Trẻ không được bú mẹ có nguy cơ bị bệnh tiêu chảy và viêm phổi cao gấp 6-10 lần so với trẻ được bú mẹ [19],[43]. Hơn thế nữa, sữa mẹ còn có ảnh hưởng lâu dài giúp trẻ giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính về sau [24], [44].

Nuôi con bằng sữa mẹ là can thiệp cứu sống trẻ em có hiệu quả nhất trong các chương trình can thiệp vì sự sống còn trẻ em, người ta ước tính rằng chỉ với thực hành cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể phòng được khoảng 1,3 triệu trẻ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [34]. Với các bằng chứng của việc nuôi con bằng sữa mẹ trong việc tăng cường sức khỏe, giảm bệnh tật, tử vong cho bà mẹ trẻ em cũng như tạo nền tảng cho cho sự lớn lên và phát triển tối ưu cho trẻ [28], WHO và UNICEF khuyến nghị [46]: - Cho trẻ bú sớm ngay trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ. - Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu: Có nghĩa là chỉ cho trẻ bú mẹ, không cần cho trẻ thêm bất kỳ thức ăn, nước uống nào khác. - Từ tháng thứ 6 trở đi: Cho trẻ ăn thức ăn bổ sung đầy đủ, an toàn, hợp lý và tiếp tục cho con bú sữa mẹ đến 2 tuổi hoặc lâu hơn vì sữa mẹ vẫn đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng của trẻ.

Vai trò của người chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh tại cuộc đẻ đóng vai trò quan trọng quyết định giúp người mẹ cho trẻ bú sớm trong giờ đầu sau sinh. WHO và các tổ chức quốc tế cũng khuyến nghị là cần cho trẻ nằm tiếp xúc da kề da hoặc nằm cạnh mẹ ngay sau khi sinh để tạo điều kiện thuận lợi cho bà mẹ cho con bú. Đối với trẻ sinh ra bình thường, không bị bệnh, cần trì hoãn một số chăm sóc sơ sinh như cân, đo chiều dài, tắm cho trẻ, tiêm phòng sau giờ đầu để tránh trẻ phải tách mẹ làm chậm bữa bú đầu của trẻ. Cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn Theo WHO, bú sớm sau sinh là trẻ được bú trong vòng 1giờ sau đẻ và bú mẹ hoàn toàn là trẻ chỉ bú mẹ, không ăn thêm bất kỳ thức ăn nước uống nào khác, kể cả nước lọc (trừ vitamin, vac xin và các thứ thuốc cần thiết do chỉ định của thầy thuốc) [45].

Cho bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh đã được WHO và UNICEF khuyến nghị trên toàn cầu từ năm 1989. Các nghiên cứu sau đó đã cung cấp nhiều bằng chứng về lợi ích của việc cho con bú sớm cũng như tạo điều kiện, hỗ trợ bà mẹ thực hiện được cho con bú ngay trong vòng 1 giờ sau sinh, vì thế khuyến nghị này đã được xem xét và cập nhật vào các năm 1998, 2007 cùng với việc khuyến khích cho trẻ tiếp xúc da kề da với mẹ ngay sau khi sinh. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định với các chăm sóc này đã giúp trẻ không bị lạnh, ít quấy khóc hơn và tăng cường mối tương tác mẹ - con và kết quả trở lại là giúp việc cho con bú sớm thành công hơn [30], [32]. Cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn sau khi sinh là tận dụng được nguồn sữa non quí giá từ mẹ.

Sữa non là sữa được tạo ra trước và trong vài ngày đầu sau đẻ. Lượng sữa non không nhiều nhưng đủ về số lượng và các thành phần dinh dưỡng phù hợp với bộ máy tiêu hóa của trẻ ngay khi mới lọt lòng mẹ. Sữa non có màu vàng nhạt, đặc sánh có nhiều kháng thể, bạch cầu hơn sữa trưởng thành giúp trẻ sơ sinh chống nhiễm khuẩn và dị ứng. Hơn thế nữa, các chất giúp phòng nhiễm khuẩn này tiếp tục góp phần vào việc hình thành và hoàn chỉnh hệ thống miễn dịch về sau cho trẻ.

Chính vì vậy người ta coi sữa mẹ như là liều vắc xin đầu tiên giúp trẻ chống đỡ bệnh tật. Sữa non còn có tác dụng xổ nhẹ giúp tống phân su nhanh, kéo theo đào thải bilirubin nhanh. Vì vậy, trẻ được bú sữa non ít vàng da hơn và thời gian vàng da cũng ngắn hơn. Sữa non còn có nhiều yếu tố phát triển giúp bộ máy tiêu hoá non nớt của trẻ nhanh chóng trưởng thành.

Lượng vitamin A trong sữa non rất nhiều giúp giảm nhẹ bệnh khi trẻ mắc bệnh [14]. Đặc biệt sữa non chứa nhiều các yếu tố tăng trưởng giúp phát triển ruột chưa trưởng thành. Bình thường do ruột của trẻ còn chưa phát triển hoàn chỉnh nên có thể các protein trong sữa bò có kích thước phân tử lớn vẫn có thể thấm qua gây hội chứng không dung nạp thức ăn và còn có thể gây dị ứng. Nhờ tác dụng của các yếu tố tăng trưởng trong sữa non mà các mao ruột trưởng thành nhanh.

Các kháng thể có trong sữa non làm cho ruột hấp thu có chọn 9 lọc, nhờ đó mà giúp trẻ không bị dị ứng và không mắc chứng không dung nạp các thức ăn khác [14]. Cho trẻ bú sớm còn có tác động vào cơ tử cung gây co cơ, giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ, giảm nguy cơ bế sản dịch trong thời kỳ hậu sản, giảm nguy cơ nhiễm trùng tử cung sau đẻ do cơ chế kích thích vùng dưới đồi sản xuất oxytocin [45].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ