Tài liệu: Thực trạng kiến thức thái độ và hành vi về hiến máu tình nguyện

Chuyên khảo Thực trạng kiến thức thái độ và hành vi về hiến máu tình nguyện của si phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Trường Đại học Phenikaa

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về Thực trạng Kiến thức Thái độ và Hành vi

Thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong các ngành khoa học xã hội và y tế công cộng. Đây là công cụ đánh giá toàn diện về mức độ hiểu biết, quan điểm và các hành động thực tế của một nhóm dân cư đối với một vấn đề cụ thể. Trong bối cảnh hiến máu tình nguyện, việc nắm bắt thực trạng này giúp các nhà chính sách và các tổ chức y tế hiểu rõ hơn về động lực và rào cản khiến sinh viên tham gia hoặc từ chối hoạt động nhân đạo này. Nghiên cứu kiến thức, thái độ, hành vi không chỉ cung cấp dữ liệu thống kê mà còn phát hiện các yếu tố tâm lý, xã hội ảnh hưởng đến quyết định của cá nhân.

1.1. Định nghĩa Kiến thức trong Hiến máu Tình nguyện

Kiến thức về hiến máu tình nguyện bao gồm những thông tin cơ bản về quá trình hiến máu, lợi ích sức khỏe, tiêu chí đối tượng có thể hiến máu, và tác dụng của máu trong điều trị. Sinh viên cần hiểu rõ rằng hiến máu là hành động tình nguyện, không có lợi nhuận, nhằm cứu sống bệnh nhân. Kiến thức này là nền tảng để xây dựng thái độ tích cực và thúc đẩy hành vi tham gia.

1.2. Thái độ và Động lực Tham gia

Thái độ phản ánh cách sinh viên nhìn nhận giá trị của hiến máu tình nguyện. Một thái độ tích cực giúp sinh viên thấy rõ ý nghĩa nhân đạo, vai trò cứu sống và đóng góp xã hội. Các yếu tố như sợ hãi, lo lắng về sức khỏe, hoặc thông tin sai lệch có thể tạo ra thái độ tiêu cực, làm giảm động lực tham gia của sinh viên.

II. Tình trạng Hiện tại của Sinh viên Thành phố Hà Nội

Tại Thành phố Hà Nội, thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi về hiến máu của sinh viên đại học còn gặp nhiều thách thức. Mặc dù Hà Nội là trung tâm giáo dục với hàng chục trường đại học, mức độ tham gia hiến máu tình nguyện của sinh viên vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân chính bao gồm: kiến thức không đầy đủ, lo lắng về tác dụng phụ, thời gian bận rộn, và thiếu sự hướng dẫn từ các cơ quan y tế. Nghiên cứu khoa học về thực trạng này là cần thiết để xây dựng các chiến lược nâng cao nhận thức và khuyến khích sinh viên tham gia hiến máu tình nguyện.

2.1. Mức độ Nhận thức về Hiến máu

Nhiều sinh viên tại Hà Nội vẫn thiếu kiến thức cơ bản về quy trình hiến máu tình nguyện, tiêu chí sức khỏe, và lợi ích của việc hiến máu. Thông tin phổ cập chỉ dừa lại ở các chiến dịch nhân đạo mà không đi sâu vào khoa học y học. Điều này dẫn đến tình trạng kiến thức hạn chếthái độ thụ động của sinh viên.

2.2. Rào cản Tâm lý và Hành vi

Sợ hãi về đau, mất máu, và các phản ứng phụ là những rào cản tâm lý chính ngăn sinh viên tham gia. Ngoài ra, thời gian bận rộn, khoảng cách địa lý đến trung tâm hiến máu, và thiếu động lực xã hội cũng ảnh hưởng đáng kể đến hành vi thực tế của sinh viên.

III. Phương pháp Nghiên cứu Thực trạng

Để đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi về hiến máu tình nguyện của sinh viên Hà Nội, các nhà nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp phương pháp định tính. Phương pháp khảo sát bằng questionnaire cho phép thu thập dữ liệu từ số lượng lớn sinh viên, trong khi phỏng vấn sâu giúp hiểu rõ hơn về động lực, thái độrào cản cá nhân. Tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu bao gồm: sinh viên đang theo học tại các trường đại học Hà Nội, độ tuổi phù hợp hiến máu (18-60 tuổi), và sự tự nguyện tham gia.

3.1. Thiết kế Nghiên cứu và Công cụ Thu thập Dữ liệu

Questionnaire được thiết kế với các câu hỏi về kiến thức (định nghĩa, lợi ích hiến máu), thái độ (quan điểm về hiến máu tình nguyện), và hành vi (tham gia, tần suất, lý do). Công cụ này được xác minh độ tin cậy qua pilot test trước khi triển khai chính thức.

3.2. Tiêu chí Lựa chọn và Loại trừ Đối tượng

Tiêu chí lựa chọn: sinh viên đang theo học các trường đại học, cao đẳng Hà Nội; độ tuổi 18-60; sức khỏe đạt tiêu chuẩn. Tiêu chí loại trừ: sinh viên có bệnh lý mãn tính, đang sử dụng thuốc ảnh hưởng đến máu, hoặc từ chối tham gia nghiên cứu. Điều này đảm bảo tính xác thực của kết quả nghiên cứu.

IV. Ý nghĩa và Ứng dụng của Nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi về hiến máu tình nguyện mang ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Kết quả giúp các bệnh viện, trung tâm hiến máu, và các cơ quan y tế công cộng xây dựng chiến lược nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ, và khuyến khích hành vi tham gia của sinh viên. Từ đó, có thể duy trì nguồn cung cấp máu ổn định, đáp ứng nhu cầu của các bệnh nhân cần truyền máu cấp cứu. Nghiên cứu này cũng góp phần giáo dục sức khỏe cộng đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội của thế hệ trẻ.

4.1. Tác động đến Chính sách Y tế Công cộng

Dữ liệu từ nghiên cứu thực trạng cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách, chương trình khuyến khíchcác biện pháp can thiệp nhằm tăng tỷ lệ hiến máu tình nguyện. Các cơ quan y tế có thể thiết kế những chiến dịch truyền thông phù hợp, loại bỏ thông tin sai lệch, và tạo môi trường an toàn, thoải mái cho những người muốn tham gia.

4.2. Khuyến nghị cho Sinh viên và Cơ sở Giáo dục

Các trường đại học nên tích hợp kiến thức về hiến máu vào chương trình giáo dục sức khỏe, tổ chức các lớp tập huấn về lợi ích, quy trình hiến máu, và thiết lập câu lạc bộ hiến máu tình nguyện. Điều này không chỉ nâng cao kiến thức mà còn xây dựng thái độ tích cựckhuyến khích hành vi nhân đạo trong cộng đồng sinh viên.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm: 1.1 Khái niệm về máu an toàn Máu an toàn là máu được lấy từ người khỏe mạnh từ 18 – 60 tuổi, đã được xét nghiệm, lưu trữ và được cung cấp kịp thời, đầy đủ cho người bệnh[5].2 Khái niệm về hiến máu Hiến máu là quá trình một người tự nguyện cho máu hoặc các thành phần của máu. Máu sau khi được thu thập có thể dùng để truyền hoặc trải qua một quá “phân tách” để tạo ra các chế phẩm của máu.3 Khái niệm về nhận thức[6] Nhận thức là “quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn”. Hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Con đường nhận thức được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong.

Cụ thể là: Nhận thức cảm tính (còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy. Nhận thức cảm tính gồm các hình thức cảm giác, tri giác và biểu tượng. Đặc điểm của giai đoạn này là: Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức, phản ánh bề ngoài, phản ánh cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản chất.

Nhận thức lý tính (còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận. Đặc điểm giai đoạn này là nhận thức gián tiếp đối với sự vật hiện tượng, là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng. Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối 4 quan hệ chặc chẽ với nhau. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính; không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật.

Thực tiễn có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận được do đó thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức [7].4 Khái niệm về thái độ Từ khi khái niệm thái độ được ra đời đầu tiên từ năm 1918, cùng với rất nhiều nghiên cứu khác nhau về thái độ, thì đồng thời cũng xuất hiện những định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về thái độ. Các nhà tâm lý học Việt Nam cho rằng: “Thái độ là bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bản của ý thức” hay “ thái độ về mặt cấu trúc bao gồm cả mặt nhận thức, mặt xúc cảm và mặt hành vi”. Theo Từ điển tiếng Việt, thái độ được định nghĩa là: “ Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó” [8].5 Khái niệm về hành vi Tâm lý học Macxit coi con người là một chủ thể tích cực chứ không phải là một các thể thích nghi thụ động với môi trường.

Hành vi của con người bao giờ cũng có mục đích. Hành vi đó không chỉ đảm bảo cho con người tồn tại mà còn đảm bảo cho con người phát triển. Như vậy, “ hành vi bao gồm một chuỗi hành động nối tiếp nhau một cách tương đối nhằm đạt được mục đích để thỏa mãn nhu cầu con người ” [7].6 Thế nào là người có kiến thức đầy đủ về hiến máu tình nguyện? Người có nhận thức đầy đủ về hiến máu tình nguyện là người nêu được sự cần thiết, ý nghĩa của hiến máu tình nguyện và hiểu được hiến máu theo hướng dẫn của ngành y tế là không có hại tới sức khỏe, trình bày được tiêu chuẩn, điều kiện của người hiến máu an toàn; phải là người biết cách tự rèn luyện nâng cao sức khỏe để có thể tiếp tục hiến máu một cách an toàn.7 Thế nào là người có thái độ đúng đắn về hiến máu tình nguyện? Người có thái độ đúng đắn về hiến máu tình nguyện là người hoàn toàn tự 5 nguyện hiến máu cứu người, trung thực, sẵn sàng phối hợp với trung tâm truyền máu và tuyên truyền viên, nghiêm túc thực hiện theo hướng dẫn của cán bộ y tế và tuyên truyền viên, cởi mở, tôn trọng mọi người tại điểm hiến máu, có trách nhiệm với người bệnh nhận máu.8 Thế nào là người có hành vi phù hợp về hiến máu tình nguyện? Người có hành vi phù hợp về hiến máu tình nguyện là người chỉ hiến máu khi mình có đủ tiêu chuẩn, điều kiện sức khỏe và nhất định không hiến máu nếu thấy mình không đủ điều kiện để hiến máu an toàn. Ngoài ra cần phải tự rèn luyện nâng cao sức khỏe để hiến máu nhắc lại an toàn, có tinh thần vận động ủng hộ bạn bè người thân hiến máu tình nguyện [9].2 Giới thiệu khái quát về máu và an toàn truyền máu 1.1 Lượng máu có trong cơ thể Lượng máu ở người khỏe mạnh tương đối ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, giới tính, cân nặng,…Lượng máu tương đối ổn định nhờ cơ chế điều hòa của cơ thể giữa lượng máu sinh ra ở tủy xương bằng với lượng máu bị mất đi hàng ngày.

Tuy nhiên, nếu mất một lượng máu quá lớn hoặc chức năng sinh máu của tủy xương bị rối loạn thì lượng máu trong cơ thể mất ổn định [10]. Bình thường, tổng lượng máu trong cơ thể người trưởng thành trung bình khoảng 77ml/kg cân nặng với nam và 66ml/kg cân nặng với nữ. Như vậy, lượng máu tỷ lệ thuận với cân nặng của cơ thể. Lượng máu liên quan trực tiếp đến hoạt động của cơ thể như khi mất nhiều mồ hôi, hoặc mất nước thì lượng máu giảm do bị cô đặc.

Trong những trường hợp bệnh lý như thiếu máu do mất máu, do suy tủy… lượng máu trong cơ thể sẽ bị thay đổi tùy thuộc tình trạng bệnh lý. Nếu mất trên 1/3 tổng lượng máu thì cơ thể sẽ bị rối loạn chức năng của nhiều cơ quan, có thể gây sốc, thậm chí bị tử vong.2 Chức năng và các thành phần của máu Máu gồm hai phần là các tế bào máu và huyết tương. Các tế bào máu bao gồm: - Hồng cầu: Chứa huyết sắc tố đỏ - chất làm cho máu có màu đỏ. Hồng cầu là tế bào không nhân, hình đĩa lõm hai mặt, đường kính khoảng 7 m.

6 Chức năng chủ yếu của hồng cầu là vận chuyển oxy và khí cacbonic. Đời sống trung bình hồng cầu khoảng 120 ngày. Hồng cầu già được tiêu hủy tại hệ thống liên võng nội mạc của cơ thể mà chủ yếu tại lách và tủy xương. Sau khi bị tiêu hủy, các thành phần của hồng cầu như sắt được giữ lại và về tủy xương tạo hồng cầu mới, heme được thoái biến thành bilirubin gián tiếp rồi về gan chuyển thành bilirubin trực tiếp.[12] - Bạch cầu: là tế bào to, có nhân, chiếm số lượng từ 4 nghìn đến 10 nghìn/ mm3.

Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện và tiêu diệt các” vật lạ” gây bệnh. Có nhiều loại bạch cầu khác nhau với đời sống từ một tuần đến vài tháng. Bạch cầu được sinh ra tại tủy xương. Ngoài việc lưu hành trong máu, một lượng lớn bạch cầu cư trú ở các mô của cơ thể để làm nhiệm vụ bảo vệ [10].

Bạch cầu cũng là nơi trú ngụ của HIV [11]. - Tiểu cầu: là những mảnh tế bào rất nhỏ, số lượng từ 150 nghìn đến 350 nghìn/ mm3. Tiểu cầu tham gia vào chức năng cầm máu, tham gia tạo cục máu đông bịt các vết thương thành mạch. Ngoài ra, tiểu cầu làm cho thành mạch mềm mại, dẻo dai nhờ chức năng nhờ chức năng tiểu cầu làm trẻ hóa tế bào nội mạc.

Đời sống tiểu cầu khoảng 7 – 10 ngày[10]. - Huyết tương: là phần vô hình, có màu vàng, chủ yếu là nước; ngoài ra còn chưa nhiều chất rất quan trọng đối với sự phát triển, chuyển hóa của cơ thể như: Albumin, các yếu tố đông máu, các kháng thể, các chất mỡ, đường, vitamin, muối khoáng, hormon, các men,… [11] Các chất dung dịch được hấp thu ở ruột vào huyết tương, được xử lý ở gan thành các chất phù hợp rồi đi nuôi cơ thể. Đồng thời nhận các chất cần đào thải từ các mô, các tế bào để đưa đến chuyển hóa ở gan, đào thải qua thận, tuyến mồ hôi, phổi… Huyết tương thay đổi theo tình trạng sinh lý trong cơ thể, ví dụ sau bữa ăn huyết tương có màu đục và trở nên trong, màu vàng chanh sau khi ăn vài giờ. Nếu đơn vị máu có huyết tương đục sẽ không được sử dụng vì có thể gây sốc, gây dị ứng cho người bệnh; vì vậy, người hiến máu chỉ nên ăn nhẹ, ăn ít đạm, ít mỡ trước khi hiến máu [10].3 Hiệu quả của truyền máu Máu và chế phẩm máu là một loại thuốc điều trị đặc biệt, chỉ có thể lấy từ người.

Hằng ngày có rất nhiều người bệnh cần truyền máu và được cứu chữa nhờ truyền máu[11]. Khi bệnh nhân bị mất quá nhiều máu hoặc thiếu các thành phần của máu thì việc truyền máu là hoạt động không thể thiếu trong cấp cứu và điều trị, gây ra những hậu quả nặng nề trên lâm sàng, nếu không được truyền máu kịp thời bệnh nhân sẽ tử vong. Truyền máu là nhận máu hoặc các sản phẩm máu, bao gồm hồng cầu, tiểu cầu và huyết tương, từ người khác, bảo quản trong túi nhựa và truyền qua kim gắn vào tĩnh mạch trên cánh tay của người đó. Việc truyền máu không gây đau đớn nhưng có thể gây ra một số khó chịu cho người nhận, và mỗi đơn vị máu thường được truyền trong vòng 2-4 giờ [2].

Hiện nay, máu và các sản phẩm máu được sử dụng rộng rãi trong y tế, phẫu thuật, sản khoa, nhi khoa và các lĩnh vực chuyên môn khác để phục hồi lượng máu và sự thiếu hụt thành phần máu, hoặc giúp bệnh nhân hồi phục sau các loại thuốc hóa trị ảnh hưởng đến tủy xương.4 Truyền máu an toàn Quy tắc truyền máu cơ bản là: không để kháng nguyên và kháng thể tương ứng gặp nhau trong máu người nhận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ