Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, vai trò của rừng ngày càng được nhận thức rõ hơn bao giờ hết. Rừng cung cấp gỗ và lâm sản ngoài gỗ phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của hàng triệu đồng bào miền núi. Rừng là nơi nuôi dưỡng nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, làm sạch môi trường và mang giá trị văn hóa, tinh thần. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ của dân số thế giới, rừng càng bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng.
Nguyên nhân chủ yếu của mất rừng là sự can thiệp thiếu hiểu biết của con người. Với điều kiện sống nghèo đói người ta đã khai thác rừng một cách quá khả năng phục hồi của nó. Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một trong những giải pháp tốt nhất cho bảo vệ và phát triển rừng là kinh doanh lâm sản ngoài gỗ. Nó cho phép tạo được nguồn thu nhập kinh tế ổn định cho người dân miền núi trong khi vẫn bảo vệ và phát triển được rừng.
Kinh doanh lâm sản ngoài gỗ đang nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân miền núi. Lâm sản ngoài gỗ là những sản phẩm không phải là gỗ có nguồn gốc sinh vật, được khai thác từ rừng tự nhiên hoặc rừng trồng có giá trị nhiều mặt, góp phần phát triển kinh tế - xã hội với điều kiện tự nhiên ưu đãi Việt Nam là quốc gia có tiềm năng phát triển lâm sản ngoài gỗ ở khu vực Châu Á, hiện có gần 1,6 triệu ha rừng đặc sản, với tổng sản lượng hàng năm lên đến 40. Trong đó các nhà khoa học đã phát hiện có 2.830 loài cây thuốc, 500 loài cây tinh dầu, 620 loài nấm, 820 loài tảo, 186 loài thực vật đặc hữu chỉ có ở Việt Nam, 823 loài chỉ có ở Đông Dương. Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam đã được xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ.
Chế biến lâm sản ngoài gỗ đã thu hút hàng trăm nghìn n 2 lao động, chủ yếu là lao động nông thôn, miền núi góp phần đáng kể vào xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương có rừng và đất rừng. Thảo quả là loài cây cho lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao, thân thảo, sống lâu năm dưới tán rừng. Chiều cao trung bình có thể đạt đến 2-3m. Hạt Thảo quả được dùng làm dược liệu và thực phẩm có giá trị.
Trong những năm gần đây Thảo quả đã được xuất khẩu ra nước ngoài với sản lượng hàng trăm tấn mỗi năm. Nó trở thành nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình vùng cao ở các tỉnh Yên Bái, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu. Một trong những địa phương đó là: thị trấn Tân Uyên – huyện Tân Uyên – tỉnh Lai Châu với mô hình trồng Thảo quả dưới tán rừng đem lại hiệu quả kinh tế cao giúp bà con nơi đây thoát nghèo. Để tìm hiểu sâu thêm về loài cây này tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng gây trồng và phát triển cây Thảo quả tại thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu”.
Làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng gây trồng và phát triển cây Thảo quả tại thị trấn. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tốt cây Thảo quả cho năng xuất, chất lượng cao. Mục đích nghiên cứu Điều tra và đánh giá được thực trạng, tình hình phân bố và đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây Thảo quả trên địa bàn thị trấn. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loài Thảo quả, là cây với mục đích xóa đói giảm nghèo cho người dân.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được đặc điểm sinh trưởng của cây Thảo quả. - Điều tra được tình hình phân bố, gây trồng và phát triển cây Thảo quả tại thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. - Tìm hiểu được kinh nghiệm sử dụng và thị trường của cây Thảo quả. n 3 - Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức cho người dân trong việc trồng cây lâm sản dưới tán rừng tự nhiên, bảo vệ rừng và phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân sống gần rừng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học và trong học tập Giúp sinh viên bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực gây trồng và phát triển các loài lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng. Đây là một bước đi mang lại hiệu quả thiết thực, nâng cao đời sống của người dân, đồng thời góp phần bảo vệ đất, bảo vệ rừng. Giúp sinh viên có điều kiện vận dụng các kiến thức đã học được trên ghế nhà trường vào thực tiễn, rèn luyện kĩ năng tiếp xúc và làm việc với người dân.
Đây là điều kiện tốt để sinh viên tiếp xúc và học tập, hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu Có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn, duy trì loài dược liệu quý đồng thời cung cấp nguồn dược liệu y học. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất Từ việc tìm hiểu về thực trạng gây trồng giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trưởng phát triển của loài cây Thảo quả. Thông qua tình hình sinh trưởng của cây Thảo quả, có thể giúp cho người dân địa phương đưa ra các biện pháp chăm sóc hợp lí để nâng cao năng suất, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Làm cơ sở đưa ra các biện pháp kĩ thuật phục vụ cho công tác trồng và chăm sóc cây sau này.
Khi nhân rộng được giống cây Thảo quả không những sẽ là nguồn thu đáng kể cho người nông dân, mà còn góp phần bảo vệ rừng, chống sói mòn, cải tạo đất. n 4 Có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn và duy trì các loài cây dược liệu nói chung và cây Thảo quả nói riêng, góp phần phát triển các loài cây lân sản ngoài gỗ tại địa phương. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, sự phụ thuộc vào tài nguyên rửng rất lớn, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
Để giảm vấn nạn chặt phá rừng tự nhiên phải giúp bà con nơi này có cuộc sống ổn định, thu nhập đều đặn về kinh tế có như vậy diện tích rừng tự nhiên hiện có mới được giữ vững. Đất nông nghiệp dùng để canh tác lương thực, thực phẩm được luân phiên quanh năm nên muốn bổ sung thêm cây trồng thì vấn đề đặt ra là cần có diện tích đất đủ lớn đây là cơ sở của việc trồng cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng. Khái niệm lâm sản ngoài gỗ Trước đây, người ta coi gỗ là sản phẩm chính của rừng, còn các lâm sản khác như song, mây, dầu, nhựa, lương thực, thực phẩm, dược liệu, .v… do có khối lượng nhỏ lại ít được khai thác nên thường coi là sản phẩm phụ của rừng. Người ta gọi đó là lâm sản phụ (minor forest products) hoặc đặc sản rừng (special forest products).
Trong thập kỉ gần đây, rừng bị tàn phá mạnh, gỗ trở nên hiếm và sử dụng ít dần, nhiều nguyên liệu khác như kim loại và các chất tổng hợp dần dần thay thế gỗ trong công nghiệp và các ngành khác. Trong khi đó các “Lâm sản phụ” được sử dụng ngày càng nhiều hơn và với những chức năng đa dạng hơn cả gỗ. Vì vậy, để khẳng định vai trò của các “Lâm sản phụ” người ta đã sử dụng một thuật ngữ mới thay cho nó là “Lâm sản ngoài gỗ” “Non- timber forest products” hay “Non- wood forest products” Các nhà khoa học đã đưa ra những khái niệm khác nhau về lâm sản ngoài gỗ. de Beer (1992) [13] “Lâm sản ngoài gỗ được hiểu là toàn bộ động vật, thực vật và những sản phẩm khác ngoài gỗ của rừng được con người n 6 khai thác và sử dụng”.
Năm 1994 [13], trong hội nghị các chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan đã thông qua khái niệm về lâm sản ngoài gỗ như sau: “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo ngoài củi và than. Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ. Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái không phải là các lâm sản ngoài gỗ”. Để có một khái niệm chung và thống nhất, hội nghị do tổ chức Nông lương thế giới tổ chức tháng 6/1999 đã đưa ra khái niệm lâm sản ngoài gỗ như sau: “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất rừng và các cây thân gỗ”.
Sau nhiều năm nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ Jenne. de Beer (1992) [13] đó bổ sung khái niệm lâm sản ngoài gỗ. Theo ông “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và sợi”.
Theo các khái niệm này của Jenne. de Beer là đơn giản, dễ sử dụng nhưng khác với hầu hết các khái niệm trước đây là ông đã đưa củi vào nhóm lâm sản ngoài gỗ. Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên gỗ mà còn đa dạng về các loài thực vật cho lâm sản ngoài gỗ. Khi nghiên cứu sự đa dạng lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi một bản ở Thakek – Khammouan – Lào người ta đã thống kê được 306 loài lâm sản ngoài gỗ trong đó có 223 loài làm n 7 thức ăn.
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, đã chia lâm sản ngoài gỗ thành 4 nhóm chính như sau: - Cây sống và các bộ phận của cây - Động vật và các sản phẩm của động vật - Các sản phẩm được chế biến (Các gia vị, dầu nhựa thực vật) - Các dịch vụ từ rừng Mendelsohn (1989) [13] đã căn cứ vào giá trị sử dụng của lâm sản ngoài gỗ thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được; keo dán và nhựa; thuốc nhuộm và ta nanh; cây cho sợi; cây làm thuốc.