Luận văn thực trạng công tác phòng chống bệnh dại và kiến thức thái độ thực hành về bệnh dại của cán bộ y tế cán bộ thú y và người dân tại phú thọ năm 2009 2010

Nghiên cứu thực trạng công tác phòng chống bệnh dại và kiến thức, thái độ của cán bộ y tế, thú y và người dân tại Phú Thọ năm 2009-2010.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2010

168
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm cơ bản về bệnh dại

1.2. Đặc điểm của bệnh dại

1.2.1. Bệnh dại ở động vật

1.2.2. Bệnh dại ở động vật hoang dã

1.2.3. Bệnh dại ở động vật nuôi

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG BỆNH DẠI VÀ CÔNG TÁC PCBD Ở NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT TẠI PHÚ THỌ

4.1. Kiến thức, thái độ, thực hành của cán bộ y tế và cán bộ thú y về bệnh dại

4.2. Các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác PCBD

4.3. Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống bệnh dại tại cộng đồng và các yếu tố liên quan

4.4. Thực trạng công tác phòng chống bệnh dại tại Phú Thọ

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng công tác phòng chống bệnh dại tại Phú Thọ

Bệnh dại là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây truyền từ động vật sang người. Tại Phú Thọ, tình hình bệnh dại đã có những diễn biến phức tạp trong giai đoạn 2009-2010. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống bệnh dại, nhưng số ca mắc và tử vong vẫn ở mức cao. Theo báo cáo của Bộ Y tế, Phú Thọ luôn nằm trong nhóm tỉnh có tỷ lệ tử vong do bệnh dại cao nhất cả nước.

1.1. Khái niệm và nguyên nhân gây bệnh dại

Bệnh dại là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút dại gây ra, lây truyền chủ yếu qua vết cắn của động vật mắc bệnh. Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh dại là do chó và mèo, chiếm tỷ lệ cao trong các ca mắc bệnh.

1.2. Tình hình bệnh dại tại Phú Thọ giai đoạn 2009 2010

Trong giai đoạn này, Phú Thọ ghi nhận nhiều ca tử vong do bệnh dại, với tỷ lệ cao hơn so với các tỉnh khác. Số liệu thống kê cho thấy, tỷ lệ tử vong do bệnh dại tại Phú Thọ là 1,85/100.000 dân, cao gấp nhiều lần so với mức trung bình cả nước.

II. Những thách thức trong công tác phòng chống bệnh dại tại Phú Thọ

Công tác phòng chống bệnh dại tại Phú Thọ gặp nhiều khó khăn. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt kiến thức của người dân về bệnh dại và các biện pháp phòng ngừa. Hơn nữa, việc phối hợp giữa các cơ quan y tế và thú y còn lỏng lẻo, dẫn đến hiệu quả công tác phòng chống chưa cao.

2.1. Thiếu kiến thức về bệnh dại trong cộng đồng

Nhiều người dân chưa hiểu rõ về triệu chứng và cách phòng ngừa bệnh dại. Theo khảo sát, chỉ có 21,5% người dân thực hành đúng các biện pháp phòng chống bệnh dại.

2.2. Sự phối hợp kém giữa các cơ quan chức năng

Sự phối hợp giữa ngành y tế và thú y chưa chặt chẽ, dẫn đến việc triển khai các chương trình phòng chống bệnh dại không hiệu quả. Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe chưa được thực hiện thường xuyên.

III. Các biện pháp phòng chống bệnh dại hiệu quả tại Phú Thọ

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống bệnh dại, cần triển khai đồng bộ nhiều biện pháp. Việc tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân là rất cần thiết. Đồng thời, cần cải thiện điều kiện tiêm phòng và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

3.1. Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe

Cần tổ chức các buổi truyền thông về bệnh dại, cách phòng ngừa và xử trí khi bị súc vật cắn. Nội dung truyền thông cần phù hợp với từng nhóm đối tượng để đạt hiệu quả cao.

3.2. Cải thiện điều kiện tiêm phòng bệnh dại

Các điểm tiêm phòng cần được nâng cấp, đảm bảo đủ trang thiết bị và nhân lực. Cần có kế hoạch tiêm phòng định kỳ cho người dân, đặc biệt là những khu vực có nguy cơ cao.

IV. Kết quả nghiên cứu về công tác phòng chống bệnh dại tại Phú Thọ

Nghiên cứu cho thấy, mặc dù có nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống bệnh dại, nhưng kết quả vẫn chưa đạt yêu cầu. Tỷ lệ người dân có kiến thức và thái độ tích cực về bệnh dại là cao, nhưng thực hành phòng chống còn hạn chế.

4.1. Đánh giá kiến thức và thái độ của người dân

Kết quả khảo sát cho thấy 79,5% người dân có kiến thức về bệnh dại, nhưng chỉ 21,5% thực hành đúng các biện pháp phòng ngừa. Điều này cho thấy cần có sự can thiệp kịp thời.

4.2. Đánh giá thực hành phòng chống bệnh dại

Thực hành phòng chống bệnh dại của người dân còn thấp, đặc biệt là ở những khu vực nông thôn. Cần có các chương trình hỗ trợ để nâng cao thực hành phòng chống bệnh dại trong cộng đồng.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công tác phòng chống bệnh dại

Công tác phòng chống bệnh dại tại Phú Thọ cần được cải thiện và duy trì liên tục. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Hướng đi tương lai là tăng cường nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp mới trong phòng chống bệnh dại.

5.1. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng chống

Cần xây dựng các chương trình truyền thông hiệu quả, cải thiện điều kiện tiêm phòng và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống bệnh dại.

5.2. Tương lai của công tác phòng chống bệnh dại tại Phú Thọ

Cần tiếp tục nghiên cứu và theo dõi tình hình bệnh dại tại địa phương, từ đó có những điều chỉnh kịp thời trong công tác phòng chống bệnh dại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/07/2025
Luận văn thực trạng công tác phòng chống bệnh dại và kiến thức thái độ thực hành về bệnh dại của cán bộ y tế cán bộ thú y và người dân tại phú thọ năm 2009 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ • Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của hệ thống thần kinh trung ương do nhiễm vi rút dại. Khi đã lên cơn dại, tất cả người và súc vật đều dẫn đến tử vong. Hầu hết các trường hợp phơi nhiễm với bệnh dại đều qua vết cắn của súc vật mắc bệnh. Tuy nhiên đôi khi người bệnh có thể bị nhiễm qua đường tiếp xúc khác như bị súc vật mắc bệnh liếm, cào hoặc ghép tổ chức bị nhiễm vi rút dại của người bệnh.

Nguồn truyền bệnh dại chủ yếu là do động vật hoang dại như cáo, chó sói, dơi, khỉ, chồn. Các động vật sống gần người như chuột, trâu, bò cũng có thể truyền bệnh dại cho người [25]. Bệnh dại là một trong mười bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất thế giới. Theo báo cáo của WHO, bệnh dại phổ biến trên toàn thế giới.

Mỗi năm có hơn 10 triệu người trên thế giới bị súc vật dại hoặc nghi dại cắn phải điều trị dự phòng bằng vắc xin và khoảng 70.000 người chết do dại. Phần lớn các ca tử vong này xảy ra tại các khu vực nông thôn (84%) và 30-50% nạn nhân là trẻ em dưới 15 tuổi [46], Chi phí ước tính hàng năm cho phòng chống bệnh dại (PCBD) trên toàn thế giới vào khoảng 583,5 triệu USD và phần lớn là ở Châu Á và Châu Phi - nơi có tỷ lệ tiêm phòng dại sau cắn cao [44]. Do đó, nếu như bệnh dại không được loại trừ, chi phí cho việc PCBD ở cả người và động vật sẽ tiếp tục tăng lên ở các nước đang phát triển và là gánh nặng cho kinh tế và xã hội. Ở Việt Nam bệnh dại lưu hành trong nhiều năm và xảy ra ở tất cả các tỉnh/thành phố trong cả nước.

Tuy nhiên mức độ lưu hành khác nhau ở các khu vực. Bệnh xảy ra ở tất cả các tháng trong năm, chủ yếu tăng lên vào mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 7. Chó là ổ chứa vi rút dại chủ yếu ở Việt Nam chiếm 96%- 97%, sau đó là mèo chiếm 3%-4% [25]. Các gia đình ở nước ta có thói quen nuôi nhiều chó và thả rông, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn, vì vậy khi chó bị dại thì khả năng lây bệnh cho người là rất lớn.

Theo báo cáo của Chương trình phòng chống bệnh Dại quốc gia - Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cho thấy do những nỗ lực và việc tăng cường các hoạt động PCBD trên toàn quốc nên tình hình bệnh đã được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ người tiêm vắc xin phòng dại đã tăng lên trong giai đoạn 1994 - 2003, nhờ đó mà 4 số ca tử vong do dại từ 505 ca năm 1994 (tỷ lệ 0,6 ca/100.000 dân) giảm xuống còn 34 ca năm 2003 (tỷ lệ 0,037/100. Tuy nhiên, trong những năm gần đây số ca và tỷ lệ tử vong do dại đang có xu hướng tăng trở lại. Đặc biệt năm 2007 cả nước có 131 ca tử vong do dại, tỷ lệ tử vong trên 100.

Các tỉnh có số ca tử vong cao là Phú Thọ (25 ca) tương ứng với tỷ lệ chết/100.000 dân là 1,85, Yên Bái (20 ca), Hà Tây và Gia Lai (15 ca). Từ những năm 1996 đến nay, Phú Thọ luôn là một trong những tỉnh có số ca tử vong và tỷ lệ chết do dại trên 100.000 dân cao nhất trong cả nước và tình hình dại tại địa phương luôn có xu hướng trầm trọng hơn so với các tỉnh khu vực phía Bắc và so với cả nước. Năm 2005, tỷ lệ chết do dại trên 100.000 dân của Phú Thọ là 2,09 cao gấp 17 lần so với mức bình quân của các tỉnh khu vực phía Bắc (0,123) và gấp 20 lần so với cả nước (0,1). Với những nỗ lực rất lớn của ngành y tế và thú y, tình hình dại tại Phú Thọ đã có chuyển biến tốt trong 2 năm 2008 và 2009 với tỷ lệ tử vong do dại trên 100.000 dân tương ứng là 0,52 và 0,29 nhưng vẫn cao hơn so với các tỉnh trong khu vực (tỷ lệ 0,13 và 0,19) [11], [12], [27].

Do vậy công tác PCBD tại Phú Thọ vẫn tiếp tục cần được quan tâm và duy trì. Do gánh nặng bệnh tật lớn mà bệnh gây ra và tính chất tối nguy hiểm của bệnh nên trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành PCBD cũng như các nghiên cứu về dịch tễ học, vi rút học và vắc xin phòng dại. Tại Việt Nam hiện nay chỉ có một số ít nghiên cứu về bệnh dại. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung mô tả tình hình dịch tễ học của bệnh tại các khu vực và nguyên nhân các trường họp tử vong do dại.

Qua tìm hiểu tài liệu chúng tôi thấy rất ít nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành PCBD của người dân và của cán bộ y tế (CBYT) cùng cán bộ thú y là các lực lượng nòng cốt trong công tác PCBD [8], Chính vì vậy chúng ta còn thiếu nhiều thông tin cần tìm hiểu. Xuất phát từ tình hình trên, đề tài nghiên cứu: “Thực trạng công tác phòng chống bệnh dại và kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh dại của cán bộy tế, cán bộ thúy và người dân tại Phú Thọ năm 2009 - 2010” được tiến hành nhằm mô tả và cung cấp các thông tin cần thiết trong hoạt động phòng chống bệnh dại từ phía cung cấp dịch vụ (CBYT và cán bộ thú y) và người sử dụng dịch vụ (người dân). Trên cơ sở đó nghiên cứu sẽ đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng 5 cao hiệu quả của công tác phòng chống bệnh dại tại địa phương cũng như trong khu vực. MỤC TIÊU NGHIÊN cứu Mục tiêu cụ thể 1.

Đánh giá thực trạng công tác phòng chống bệnh dại tại Phú Thọ năm 2009 - 2010 2. Tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành của cán bộ y tế và cán bộ thú y về bệnh dại tại Phú Thọ năm 2010. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh dại của người dân tại Phú Thọ năm 2009 và các yếu tố liên quan. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh dại tại địa phương 6 Chưong 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Một số khái niệm cơ bản về bệnh dại • • • • Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của hệ thống thần kinh trung ương ở loài động vật có vú do nhiễm vi rút dại. Bệnh lây từ động vật sang người bởi chất tiết bị nhiễm vi rút, thông thường là nước bọt. Hầu hết các trường họp người phơi nhiễm với bệnh dại đều qua vết cắn của súc vật mắc bệnh, nhưng đôi khi có thể bị nhiễm qua đường tiếp xúc khác như ghép tổ chức bị nhiễm vi rút dại. Khi đã lên con dại, kể cả người và súc vật đều dẫn đến tử vong [7], [20], [32].

Đặc điểm của bệnh dại • • • 1. Bệnh dai ở động vát Mọi loài động vật có vú đều nhạy cảm với bệnh dại, chim và các loài động vật máu lạnh không mắc bệnh dại. Bệnh dại ở động vật có diễn tiến lâm sàng khác nhau tùy theo từng loài. Thời kỳ ủ bệnh biến động từ vài ngày đến vài tháng, trung bình là vài tuần.

Biểu hiện thường gặp là rối loạn thần kinh và các trung tâm giao tiếp với hiện tượng kích thích do viêm các nơ ron, tiếp đến là hiện tượng liệt do các nơ ron bị hủy hoại và cuối cùng là tử vong [20], [32]. Bệnh dại ở động vật hoang dã Vi rút dại khu trú ở động vật hoang dại. Đây là nguồn lây thường xuyên khi động vật hoang dại tiếp xúc với động vật nuôi và truyền vi rút dại cho động vật nuôi. Những động vật hoang dại thường là những động vật ăn thịt: cáo, chó sói, chó rừng, dơi hút máu, dơi ăn côn trùng.

Đôi khi cả những động vật ăn hoa quả cũng có thể mắc dại. Việc lan truyền thường được bắt đầu từ một trong các loại động vật nói trên cảm nhiễm vi rút dại và thời gian ủ bệnh dài. Trong thời gian ủ bệnh vi rút được bài tiết qua tuyến nước bọt và lây lan cho những động vật khác. Cáo khi bị dại sẽ mất sự thận trọng tự nhiên, không lẩn trốn như thông thường mà lang thang vào ban ngày, chạy vào làng mạc, hung hãn với gia súc, với chó và cả người [20], Bệnh dại ở động vật nuôi Động vật nuôi bị lây nhiễm từ động vật hoang dã qua vết cắn, cào, xây xát.

Thời kỳ ủ bệnh dại ở nhóm động vật này có thể thay đổi từ 7 ngày đến nhiều tháng. 7 Đa số bệnh phát ra trong vòng 21-30 ngày sau khi con vật nhiễm vi rút dại. Các động vật nuôi bị dại thường là chó, mèo, trâu, bò, ngựa. Tuy nhiên trâu, bò mắc bệnh ít nguy hiểm cho người hơn vì chúng không có khuynh hướng cắn người nhưng sự lây nhiễm vẫn có thể có.

Bệnh dại ở trâu, bò, dê, ngựa thường có diễn biến rầm rộ. Chúng tẩn công nhau hoặc tấn công động vật khác bằng sừng, thỉnh thoảng rít lên rồi liệt dần, chết sau 2-4 ngày [20], [32]. Chó và mèo bị bệnh dại rất nguy hiểm vì chúng thường có sự tiếp xúc gần gũi với con người. Ở chó, một số nhà khoa học cho rằng vi rút dại có trong nước bọt 3 ngày trước khi con vật có biểu hiện các biểu hiện lâm sàng của bệnh.

Một số người khác cho rằng khoảng thời gian phải là từ 7 ngày tới 13 ngày. Tuy nhiên đại đa số thống nhất rằng thời gian này là 10 ngày. Các biểu hiện lâm sàng ở chó bị bệnh dại thường được chia làm 2 thể, thể dại điên cuồng và thể dại câm (hay thể bại liệt). Trong thực tế, nhiều con chó mắc bệnh dại có thể biểu hiện cả 2 dạng lâm sàng này một cách xen kẽ nhau, thời gian đầu có biểu hiện điên cuồng, bị kích động sau đó chuyển sang dạng bị ức chế và bại liệt [20], [32].

Thể dại điên cuồng ở chó được chia làm 3 thời kỳ: tiền lâm sàng, tiếp đến là điên cuồng và sau cùng là bại liệt. Các biểu hiện của chó dại ở thời kỳ tiền lâm sàng rất khó để phát hiện, nhất là ở thể câm. Chó có dấu hiệu khác thường như trốn vào góc tối, kín đáo. Thái độ với chủ như gần chủ miễn cưỡng, hoặc trái lại tỏ ra vồn vã thái quá.

Thỉnh thoảng sủa vu vơ, chu lên từng hồi nghe hơi xa xăm; hoặc lại bồn chồn nhảy lên đớp không khí.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ