Lời mở đầu và Kết luận, Luận văn đƣợc bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp tại SeABank – chi nhánh Sở Giao dịch Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay doanh nghiệp xây lắp tại SeABank – chi nhánh Sở Giao dịch 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về doanh nghiệp xây lắp 1. Khái niệm “Hoạt động thi công xây lắp là những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình. Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ lắp đặt gắn liền với đất (bao gồm cả khoảng không, mặt nƣớc, mặt đất, mặt biển, thềm lục địa) đƣợc tạo thành bởi vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động.
DNXL là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đƣợc thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký ngành nghề kinh doanh trong lĩnh vực thi công, xây lắp. DNXL có hai lĩnh vực hoạt động chủ yếu là hoạt động tìm kiếm hợp đồng xây dựng và hoạt động bàn giao công trình hoàn thành và thanh quyết toán hợp đồng xây dựng với chủ đầu tƣ công trình. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp có trách nhiệm: - Đăng ký hoạt động xây dựng tại các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. - Chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật và Chủ đầu tƣ về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lƣợng, chất lƣợng, tính chính xác của sản phẩm theo thời gian thực hiện hợp đồng, có quy định và hƣớng dẫn sử dụng công trình trƣớc khi bàn giao công trình xây dựng, thực hiện bảo hành chất lƣợng sản phẩm xây dụng và công trình theo quy định.
- Thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trƣờng sinh thái trong quá trình xây dựng. Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tƣ biết và lựa chọn. Đặc trƣng của doanh nghiệp xây lắp “So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình 15 tạo ra sản phẩm của ngành. Những đặc điểm riêng của ngành và đặc điểm sản phẩm xây lắp sẽ chi phối công tác tổ chức quản lý, điều hành.
Việc nghiên cứu nắm rõ các đặc điểm này, giúp NH đƣa ra những quyết định chính xác, nắm rõ đƣợc những hạn chế và đề ra những phƣơng án khắc phục nhằm nâng cao chất lƣợng cho vay, nâng cao hiệu quả kinh doanh. “Về sản phẩm xây lắp - Sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc Mỗi sản phẩm đều có thiết kế riêng theo yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế, mặc dù sản phẩm xây lắp có thể giống nhau về hình thức song về kết cấu, quy phạm thì không giống nhau hoàn toàn nếu xây dựng ở những địa điểm khác nhau, nên mặc dù có thể sản xuất hàng loạt theo mẫu thiết kế thống nhất nhƣng chi phí xây dựng không thống nhất. Bên cạnh đó, với đặc điểm quy mô (thể tích) lớn và phức tạp của sản phẩm xây lắp dẫn đến chu kỳ sản xuất dài, vốn đầu tƣ bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí, hoặc ngƣợc lại nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thời gian xây dựng. Do đó, từ đặc điểm này, yêu cầu công tác quản lý tài chính phải có kế hoạch, tiến độ thi công, dự toán cụ thể cho từng công trình, từng hạng mục công trình và dự toán chi tiết theo thiết kế tổ chức thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công tốt để rút ngắn thời gian xây dựng, tiết kiệm vật tƣ, lao động, tiết kiệm chi phí quản lý để hạ giá thành xây dựng.
- Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm Các tƣ liệu sản xuất (các máy móc, thiết bị thi công, công nhân,.) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này làm khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất. Việc bố trí các công trình tạm phục vụ thi công (lán trại, kho tàng…) phối hợp với các phƣơng tiện, máy móc thiết bị nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp và tốn kém. Do đó, để giảm thiểu lãng phí, thất thoát trên đòi hỏi trƣớc khi khởi công xây dựng công trình phải làm thật tốt công tác chuẩn bị đầu tƣ và chuẩn bị xây dựng; hiệu quả kinh doanh sẽ phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức quản lý của 16 đơn vị xây lắp.
- Sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, khí hậu, địa chất, thuỷ văn. Chất lƣợng và giá cả (chi phí xây dựng) sản phẩm xây lắp phụ thuộc trực tiếp của các điều kiện tự nhiên. Các DNXL không thể lƣờng trƣớc đƣợc hết những khó khăn do tác động của thời tiết, khí hậu. Rủi ro xảy ra tác động tới tiến độ thi công công trình, giá thành công trình, thậm chí cả chất lƣợng công trình.
Do đó, các DNXL phải lập tiến độ thi công, tổ chức thi công hợp lý, có phƣơng án sử dụng cũng nhƣ bảo quản nguyên, nhiên vật liệu để tránh bị tác động xấu của các điều kiện tự nhiên và quản lý hiệu quả chi phí. - Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) Tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ. Đối tƣợng hạch toán chi phí cụ thể trong xây lắp là các hạng mục công trình, các giai đoạn của hạng mục hay nhóm hạng mục. Do đó, DNXL phải lập dự toán chi phí và tính giá thành theo từng hạng mục công trình hay giai đoạn của hạng mục công trình.
- Sản phẩm xây lắp liên quan đến nhiều ngành khác nhau trong quá trình xây dựng và sử dụng Tài sản cố định của các ngành khác nhau là sản phẩm của ngành xây lắp. Do vậy, chất lƣợng sản phẩm xây lắp liên quan đến chất lƣợng đầu tƣ của các ngành và hiệu quả đầu tƣ trong nền kinh tế. Đặc điểm về tổ chức quản lý và SXKD - Hoạt động kinh doanh của DNXL là hoạt động mang tính đặc thù, sản phẩm của họ là những công trình xây dựng (từ công trình xây dựng công nghiệp đến dân dụng, cầu đƣờng, cơ sở hạ tầng, xây lắp điện…), các DNXL chỉ sản xuất những sản phẩm mà chủ đầu tƣ đặt hàng và đƣợc tiêu thụ khi chủ đầu tƣ chấp thuận theo các điều kiện đã ký kết. Hoạt động SXKD của DNXL phần nào phụ thuộc vào khả năng phát triển, đầu tƣ và mở rộng của nền kinh tế, nếu đầu tƣ của nền kinh tế tăng trƣởng cao thì thị trƣờng tiêu thụ của DNXL có khả năng đƣợc 17 mở rộng.
Trên cơ sở đó, hoạt động cho vay của NH đối với KH DNXL để tham gia thi công các công trình phục vụ cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng có khả năng mở rộng. - Kết quả SXKD của DNXL đƣợc thực hiện khi các công trình xây lắp (sản phẩm xây lắp) đƣợc chủ đầu tƣ chấp thuận và thanh toán, và chỉ khi đó DNXL mới có khả năng trả nợ NH. Vì vậy, quan hệ tín dụng giữa DNXL và NH, hay nói cách khác chất lƣợng cho vay đối với DNXL sẽ phụ thuộc lớn vào mối quan hệ giữa chủ đầu tƣ (bên A) và DNXL (bên B), mối quan hệ này thể hiện ở: chất lƣợng thực hiện công trình, phƣơng thức nghiệm thu thanh toán của chủ đầu tƣ, tiến độ xây dựng, nguồn vốn xây dựng cơ bản của chủ đầu tƣ… c. Về tình hình tài chính của doanh nghiệp xây lắp - Nhu cầu vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD Do tính chất hoạt động của DNXL nên cơ cấu vốn có đặc thù riêng khác với ngành công nghiệp và các ngành khác, cụ thể là nhu cầu vốn lƣu động (vốn kinh doanh doanh ngắn hạn) cho hoạt động SXKD chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Các NH thƣờng cho vay các DNXL chủ yếu để tài trợ vốn lƣu động phục vụ thi công các công trình. Đối với nhu cầu đầu tƣ mới, thay thế và cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, NH chỉ tham gia tài trợ một phần, phần còn lại các DNXL phải bỏ vốn tự có của mình. - Tốc độ chu chuyển vốn trong các DNXL thường không cao Do đặc điểm xây dựng một đơn vị sản phẩm đòi hỏi phải bỏ nhiều chi phí, thời gian thi công kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các hạng mục công trình thi công dở dang. Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán và thanh toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tƣ.
Các DNXL thƣờng xuyên bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lƣu động thƣờng rất thấp, nhu cầu vốn lƣu động cần thiết cho thi công lớn. Trong khi đó vốn chủ hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng nguồn vốn nên để đủ vốn hoạt động, các DNXL phải huy động vốn bên ngoài mà chủ yếu là vốn vay NH. 18 - Khả năng tự chủ về tài chính thấp Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu của DNXL thƣờng chỉ chiếm khoảng 5- 20% trong tổng nguồn vốn, còn lại là vốn vay NH và vốn chiếm dụng khác. Do đó gánh nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Lợi nhuận đạt đƣợc không cao nên khả năng bổ sung vốn chủ sở hữu và đầu tƣ nâng cao năng lực sản xuất thi công thƣờng hạn chế. Trong khi đó, do sản lƣợng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao về chất lƣợng công trình đòi hỏi phải có những thiết bị thi công hiện đại nên nhu cầu vốn (cả vốn lƣu động và vốn đầu tƣ trung dài hạn) ngày càng tăng. Vì vậy, các DNXL phải vay NH ngày càng nhiều để tài trợ cho nhu cầu vốn của mình.