PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Giáo dục và con người là những yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của một quốc gia, trong đó giáo dục sẽ góp phần giảm khả năng tồn tại thất nghiệp và tăng thu nhập của người dân. Giáo dục là quốc sách hàng đầu của dất nước cho sự phát triển nguồn nhân lực – động lực và nền tảng để phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Yếu tố con người – trẻ em chính là tương lai của đất nước, của mỗi dân tộc, việc giáo dục tốt trẻ em và cho các em được cắp sách tới trường góp phần xây dựng một tương lai rộng mở, đưa đất nước phát triển phồn thịnh, để sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Và Việt Nam đã đạt được những thành tựu không nhỏ trong việc phổ cập giáo dục cho trẻ em trên cả nước. Tuy nhiên, hiện tượng học sinh sinh viên bỏ học nói chung và học sinh trung học cơ sở bỏ học nói riêng lại là vấn đề đáng lo ngại và tồn tại hiện nay. Vấn đề bỏ học là một sự lãng phí về nguồn lực quốc gia, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Việc bỏ học của các em học sinh không chỉ là nỗi lo của ngày hôm nay mà sẽ còn ảnh hưởng đến việc kiếm tìm những việc làm có thu nhập cao và chất lượng cuộc sống của các em sau này cũng như ảnh hưởng sự phát triển của quốc gia.
Đến nay, thị trường thành phố Thuận An là một trong những nơi phát triển kinh tế với tốc độ nhanh của tỉnh Bình Dương cùng với đó là sự tăng nhanh chóng về mật độ dân số. Vì vấn đề “ bồi dưỡng nhân tài” là một vấn đề rất quan trọng và luôn được tỉnh Bình Dương nói chung và thành phố Thuận An nói riêng đặc biệt quan tâm. Mặc dù trình độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở luôn đạt mức cao nhưng trên thực tế vẫn có tình trạng học sinh yếu kém và học sinh bỏ học. Tuy tình trạng bỏ học vẫn thấp hơn so với các khu vực khác trong cả nước nhưng nó cũng là một con số đáng báo động và khiến cho cơ sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương cần quan tâm và tìm giải pháp để hạn chế tình trạng này xuống mức thấp nhất.
Cụ thể, theo thống kê của trường THCS Nguyễn Văn Trỗi [9, tr23], khu vực phường An Phú của thành phố Thuận An có khoảng 2357 học sinh đến trường trong đó tỷ lệ số học sinh yếu và kém chiếm khoảng 25% trong số tổng 2357 học sinh và có 0,21% học sinh đã bỏ học và nhiều nhất là khối lớp 7. Tiếp đến là khu vực phường Bình 1 Chuẩn của thành phố Thuận An, trường THCS Bình chuẩn thống kê năm 2018 [10, tr23] với tổng số học sinh 2631 học sinh, trong đó tỷ lệ học sinh yếu và kém bị lưu ban chỉ chiếm 4,4 % so với tổng số học sinh thi lại 11,1% là 291 học sinh. Tuy số học sinh yếu và kém thấp nhưng tỷ lệ bỏ học của trường lại khá cao hơn trường THCS Nguyễn Văn Trỗi là 0,57%. Theo thống kê năm 2020 thì tỷ lệ học sinh trung học cơ sở bỏ học lại tăng 8,2% so với năm trước đó.
Qua đó, ta thấy tình trạng học sinh yếu, kém và số học sinh bỏ học khá nghiêm trọng gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nguồn lao động và nền kinh tế của thành phố Thuận An sau này. Không chỉ vậy, các em bỏ học quá sớm và trình độ nhận thức chưa cao, điều này dễ dàng cho những thành phần xấu lôi kéo, lợi dụng vào các con đường tệ nạn, không đường lui - lối thoát, nguy cơ dẫn đến tỷ lệ phạm tội chưa thành niên tăng cao. Chính vì vậy, nhóm đã quyết định chọn đề tài “Thực trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở (công lập) và hệ lụy đến tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thành phố Thuận An tỉnh Bình Dương”. Với mong muốn đưa ra được cái nhìn khái quát hơn về tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở trong cả nước cũng như tại địa bàn Bình Dương mà cụ thể hơn là tại thành phố Thuận An.
Đề tài này sẽ đề xuất thêm những kiến nghị giúp tình trạng bỏ học của học sinh được giảm bớt, nhằm nâng cao năng suất lao động và giảm tỷ lệ tội phạm vị thành niên trên địa bàn thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Tổng quan công trình nghiên cứu có liên quan 2. Công trình nghiên cứu nước ngoài Nhóm tác giả Marilu Fernandez-Haddad, Raquel Carolina Lara Gonzalez, (2021) đã phân tích “Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng bỏ học giữa thanh thiếu niên ở các khu vực đô thị bị thiệt thòi ở Mexico”. Học sinh bỏ học ở Mexico là một vấn đề xã hội cấp quốc gia khi số lượng trẻ em và học sinh nhỏ tuổi quyết định từ bỏ việc đi học ngày càng tăng.
Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp định tính nhằm xác định môi trường và các biến số khác nhau dẫn đến quyết định gián đoạn học tập hoặc thôi học. Cuộc điều tra tập trung vào một bộ phận dân số gồm những người trẻ tuổi có tình trạng kinh tế xã hội thấp cư trú tại các khu vực đô thị bị thiệt thòi cao ở thành phố Mexico. Những thanh niên này đang học cấp trung học phổ thông của hệ thống trường công lập, từ 15-18 tuổi. Nghiên cứu này khám phá ra các 2 khía cạnh (1) Môi trường ảnh hưởng đến việc thiếu niên bỏ học (2) Điều kiện kinh tế gia đình (3) Các yếu tố về xã hội (4) Các yếu tố về gia đình (5) Về bản thân của học sinh., Naka jo, Alex and Isoke, Doren (2008) đã phân tích các yếu tố kinh tế xã hội dẫn đến quyết định bỏ học ở học sinh tiểu học tại Uganda.
Các nhà nghiên cứu đã thiết lập một mô hình hậu cần để phân tích các số liệu quốc gia vào năm 2004 và mô hình phân tích này đã phân tích theo tuổi của các học sinh nông thôn và thành thị, theo giới tính. Kết quả phân tích cho thấy các biến số như giới tính, tổng số tiền chi trả cho học phí, giới tính của chủ hộ không có ý nghĩa tác động đến tỷ lệ bỏ học của học sinh tiểu học. Nghiên cứu này chỉ ra các biến số (1) quy mô gia đình (2) trình độ học vấn của cha mẹ (3) loại hình hoạt động kinh tế của các thành viên hộ gia đình, đặc biệt là ở vùng nông thôn đã có những tác động quan trọng đối với cơ hội tiếp tục việc học tập hoặc tỷ lệ bỏ học của học sinh. Thậm chí rằng, Robert Balfanz and Nettie Legters (2004) còn chỉ ra rằng có những vùng, miền có tỷ lệ học sinh bỏ học cao thường là những trường yếu về năng lực, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số và kết quả học tập của trường thông thường kém ở những môn như toán, văn…Hơn nữa các trường này thường là những trường được đặt ở các vị trí mà cộng đồng xung quanh đó có tỷ lệ cao về thất nghiệp, tội phạm và có trình độ học vấn không cao.
Nhóm tác giả Jan Arvid Haugan, Frostad và Per – Egil Mjaavantn, (2019) đã phân tích “Một nghiên cứu theo chiều dọc về các yếu tố dự đoán ý định rời trường trung học phổ thông của học sinh ở Na Uy”, tạp chí tâm lý xã hội của giáo dục. Nghiên cứu dựa trên quan điểm lý thuyết sinh thái coi việc bỏ học là một hiện tượng đa diện mà đỉnh điểm là quyết định nghỉ học. Dựa trên cơ sở này, tác giả đã sử dụng thiết kế nghiên cứu theo chiều dọc để điều tra xem các yếu tố liên quan đến trải nghiệm của sinh viên dự đoán ý định rời trường sớm ở mức độ nào. Mẫu trong nghiên cứu này bao gồm 1695 học sinh từ các trường trung học phổ thông ở Na Uy.
Bài nghiên cứu đã chạy phân tích mô tả, tương quan và hồi quy tuyến tính để phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy điểm số của học sinh ở bậc tiểu học, sự hỗ trợ của cha mẹ và giáo viên và sự tham gia của nhà trường ở bậc trung học phổ thông là những yếu tố giải thích quan trọng dẫn đến tình trạng bỏ học. Sự cô đơn ở trường trung học và khả 3 năng đối phó với các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống của học sinh dường như là hai yếu tố dự đoán quan trọng nhất liên quan đến suy nghĩ của học sinh về việc rời trường. Qua đó, thấy được bài nghiên cứu này đã khám phá ra các khía cạnh (1) Bản thân học sinh; (2) Về gia đình (sự quan tâm, lo lắng của cha mẹ); (3) Về nhà trường (sự hỗ trợ của giáo viên).
Công trình nghiên cứu trong nước Trần Thị Yên, (2020), “Nghiên cứu người dân tộc thiểu số cấp Trung học cơ sở bỏ học: Thực trạng và giải pháp”, tạp chí khoa học giáo dục Việt Nam. Bài nghiên cứu so sánh dựa trên số liệu 3 năm học của ba vùng miền: miền núi, đồng bằng và đô thị. Kết quả cho thấy miền núi có tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số bỏ học cao nhất, trong đó nghiên cứu các khía cạnh: giới tính, khối lớp, dân tộc (tộc người) và điều kiện kinh tế xã hội. Hiện tượng học sinh bỏ học là một hạn chế trong quá trình giáo dục, kết quả này do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra: (1) Nguyên nhân từ phía học sinh; (2) Nguyên nhân từ phía gia đình; (3) Nguyên nhân từ phía nhà trường; (4) Nguyên nhân từ phía xã hội; (5) Nguyên nhân từ các chính sách dân tộc – giáo dục.
Bài báo dùng phương pháp nghiên cứu định tính để làm rõ các số liệu thu thập trên báo cáo của UBND 32 tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi (Báo cáo hội đồng dân tộc Quốc Hội). Chính vì bỏ học nên việc tiếp cận với tri thức, mở mang kiến thức, tiếp cận với kinh tế thị trường rất khó khăn và thất học ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức để thay đổi tình trạng kinh tế hiện tại của hộ gia đình. Việc các em bỏ học sẽ là một thiếu hụt nguồn lao động lành nghề trong tương lai, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế đất nước. Đặng Thị Hải Thơ, (2010), “ Nghiên cứu về nguyên nhân bỏ học của Trẻ em Việt Nam, Hà Nội tháng 11/2010”, UNICEF tại Việt Nam.