DANH MỤC VIẾT TỪ VIÉT TÁT LVŨỈ/CA/Ĩ Đại học Y tế công cộng Điều tra viên Tổ chức y tế thế giới Trầm cảm sau sinh ủy ban nhân dân MỤC LỤC TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN cứu. 6 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu. Mục tiêu chung:. Mục tiêu cụ thể:.
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu. Đối tượng nghiên cứu:. Thời gian và điạ điểm nghiên cứu:. Thiết kế nghiên cứu:.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:. Phương pháp thu thập thông tin:. Kỹ thuật thu thập thông tin. Công cụ thu thập thông tin:.
Tổ chức thực hiện thu thập số liệu. Các biến số trong nghiên cứu:. Biến số đo lường mức độ trầm cảm. Biến số đo lường các yếu tố liên quan tới trầm cảm sau sinh:.
Các khái niệm trong nghiên cứu:. Phương pháp phân tích số liệu:. Nhập liệu và phân tích. Làm sạch số liệu.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:. Hạn chế cùa nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số:. Hạn chế của nghiên cửu:. Sai số và biện pháp khắc phục sai số.25 KẾ HOẠCH NGHIÊN cứu VÀ KINH PHÍ.
Kế hoạch nghiên cứu:. Dự trù kinh phí:.30 Dự KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN cứu. Dự kiến kết quà:. Thông tin chung:.
Tình trạm trầm cảm cùa các bà mẹ sau khi sinh:. Sự phân bố tình trạng trầm cảm sau sinh theo các nhómyếu tố liên quan. Mô tả môi liên quan giữa trầm cảm sau sinh và nhóm yếu tô Hên quan. Dự kiến bàn luận:.
Dự kiến kết luận và khuyến nghị:. Dự kiến kết luận. Dự kiến khuyến nghị:.52 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 53 Phụ lục 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn dành cho các bà mẹ sau khi sinh tại quận Ba Đinh, Hà Nội .56 Phụ lục 2: Cách sử dụng thang điểm đánh giá trầm cảm sau sinh (EPDS) Hướng dẫn điều tra viên .66 1 TÓM TẮT ĐÈ CƯƠNG NGHIÊN cưu Trầm cảm là một trong những những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe tâm thần.
Bệnh trầm cảm ngày càng phổ biến ở trên thế giới và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tàn tật, ốm yểu, mang lại gánh nặng cho toàn cầu. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) trên 25% dân số thế giới bị rối loạn tâm thần và hành vi tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Nguy cơ trầm cảm ờ nữ cao hơn ở nam giới đặc biệt, với các phụ nữ sau khi sinh.Tuy nhiên, những nghiên cứu về trầm cảm sau sinh tại Việt nam còn rất hạn chế. Vì vậy, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Mô tả thực trạng bệnh trầm cảm và một sổ yếu tố liên quan của phụ nữ sau khi sinh tại quận Ba Đình, Hà Nội, năm 2010.
” Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang với các biến số định lượng nhằm mô tả thực trạng bệnh trầm cảm ở phụ nữ sau khi sinh tại quận Ba Đình, năm 2010, đồng thời kết hợp mô tả và phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh trầm cảm của phụ nữ sau khi sinh. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 06/2010 đến tháng 09/2010, trên 106 phụ nữ con từ 6-8 tuần tuổi (± 2 ngày tuổi), đồng thời cư trú và khai sinh cho con tại Quận Ba Đình, Hà Nội, tháng 5 năm 2010. Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi gồm 2 phần: tự điền và phỏng vấn. Phần tự điền bao gồm các câu hỏi được hiệu chỉnh từ thang đánh giá trầm cảm sau sinh Edinburgh, nhằm đo lường tình trạng trầm càm của các đối tượng.
Phần câu hỏi phỏng vấn bao gồm các câu hỏi vế các yêu tố liên quan tới trầm cảm sau sinh như yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố về dịch vụ y tế. Kết quả thu được nhằm mô tả thực trạng trầm cảm sau sinh đồng thời mô tà các yếu tố liên quan tới trầm cảm ở các phụ nữ sau khi sinh tại quận Ba Đình, Hà Nội, 2 ĐẬT VÁN ĐÈ Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) trên 25% dân số thế giới bị rối loạn tâm thần và hành vi tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời [1]. Năm 1996, nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu của Đại học Harvard. TCYTTG và Ngân hàng thế giới cho biết gánh nặng toàn cầu của các rối loạn tâm thần chiếm 10,5% gánh nặng bệnh tật, tuy nhiên vẫn được cho là thấp hơn so với thực tế [1], Nghiên cứu cùa Robinson và cộng sự (2005) về Điều trị trầm cảm trong chăm sóc ban đầu cho biết mỗi năm, chi phí điều trị và chăm sóc bệnh nhân trầm cảm tại Mỹ lên tới 30-50 tỷ đô la Mỹ [13].
TCYTTG cũng dự đoán rằng 2020 trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tàn tật trên toàn cầu và là đứng thứ hai về gánh nặng bệnh tật toàn cầu với 340 triệu người chịu ảnh hưởng từ căn bệnh này [5]. Tuy nhiên, chỉ khoảng 25% trong số đó được điều trị kịp thời và đúng phương pháp [5], Uớc tính có khoáng 3% đến 5% dân số thế giới có rối loạn trầm càm rõ rệt. Nhưng đây chỉ là những còn số ước tính về y tế đơn thuần vì trên thực tế, con số này còn cao hơn rất nhiều với những trường hợp khai báo và phát hiện. Trong khi đó tần suất nguy cơ mắc bệnh trầm càm trong suốt cuộc đời là 15- 25% [6].
Nguy cơ trầm cảm đặc biệt cao hơn ở nữ với tỳ lệ trâm cảm là 20-25% so với tỷ lệ 7-12% ờ nam giới [7]. Theo tổng quan tài liệu về sàng lọc trầm cảm sau sinh của Evins (1997) có tới 50-80% phụ nữ trải qua cảm giác buồn phiền, lo âu [8]. Đặc biệt, với các phụ nữ sau khi sinh, tỷ lệ trầm cảm tương đối cao và là vấn đề rất được quan tâm, nhất là trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển, vị thế và vai trò của người phụ nữ trong gia đỉnh và xã hội ngày càng được khẳng định thì sức ép về trách nhiệm gia đình và xã hội đặt lên vai người phụ nữ càng nhiều. Trong nghiên cứu về trầm cảm sau sinh thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Huỳnh Thị Duy Hương Trầm cảm sau sinh (TCSS) được hiểu là một nhóm không đong nhất những rối loạn ức ché tâm lí, xuất hiện từ 6-8 tuần sau khi sinh, kéo dài có thề đến tuần thứ 14 sau sinh nếu không được chẩn đoán và điều trị [2].
TCSS biểu hiện bằng tính khí bất ổn, thường xấu đi vào buổi chiều, đặc trưng bởi sự chán nản, cảm giác bất lực và lo âu về khả năng chăm sóc con của mình. Các bà mẹ thường lo lắng, kích thích và hay than phiền đau đầu, đau bụng, khó tiêu, ớn lạnh, tự trách bản thân và đôi khi muốn tự tử. TCSS có thể gặp ở mọi phụ nữ. 70% phụ nữ bị TCSS không có tiền căn bệnh lí tâm thần nào [9].
TCSS thường ít được chú ý chan đoán và nếu không được điều trị kịp thời và thích hợp thì nó có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đến người mẹ và lên mối quan hệ giữa người mẹ với các thành viên khác trong gia đình đặc biệt là với đứa con mới sinh (ảnh hưởng lên sự phát triển 3 về tâm lý và cảm xúc ở trẻ). Một vài nghiên cứu cho thấy, con của bà mẹ bị trầm cảm có nguy cơ gặp các vấn đề rối loạn cảm xúc cao gấp ba lần những đứa trẻ có mẹ không bị trầm cảm. Sự lãnh đạm, hoặc những hành vi tiêu cực của bà mẹ trầm cảm đối với trẻ sơ sinh cũng ành hường tới mối quan hệ mẹ - con và kết quà là đứa trẻ đó thường bị chậm nói và kém về khả năng biểu cảm hon những đứa trẻ có một người mẹ khỏe mạnh. Thêm vào đó, những đứa trẻ này có xu hướng cần nhiều sự chăm sóc về y tế hơn những đứa trẻ có người mẹ không bị trầm cảm.
Khá nhiều nghiên cứu về TCSS đã được tiến hành trên thế giới. Các nghiên cứu đưa ra được ti lệ trầm càm ở các bà mẹ sau khi sinh là rất cao (15-25%), tuy nhiên, có chưa tới 5% bà mẹ trong sổ đó nhận ra mình đang bị trầm cảm và chi có khoảng 1% được điều trị căn bệnh này [8, 16]. Nhìn chung, tỉ lệ TCSS cao hơn rất nhiều so với con số tỷ lệ trầm cảm nói chung từ 3 % đến 5% - trên thế giới [6], điều này cho thấy tình trạng đáng báo động của căn bệnh này. Một nghiên cứu phát hiện và điều trị TCSS tại Mỹ (C.
Neill Epperson và M.D, 1999) cho biết tỉ lệ TCSS là 15-25% [10]. Theo nghiên cứu về mối liên hệ giữa quá trình mang thai và sinh con với TCSS của u. Trong 3 tháng đầu sau khi sinh, khoảng 14,5% phụ nữ có biểu hiện trầm cảm từ nhẹ tới nặng, 10-20% phụ nữ tin rằng họ từng bị trầm cảm trong giai đoạn sau khi sinh, điều này khiến cho TCSS trở thành một vấn đề phổ biến đáng lo ngại [13]. Một nghiên cứu bệnh chứng tại Anh cho biết trong 5 tuần đầu sau khi sinh, phụ nữ có khả năng bị trầm cảm cao gấp 3 lần bình thường [13].
Tương tự, một nghiên cứu khác tại Na Uy, so sảnh phụ nữ sau khi sinh và phụ nữ không sinh con đã đưa ra kết quả là nguy cơ trầm cảm ở phụ nữ sau khi sinh cao gấp 1,8 lần [ 13]. Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng thang đánh giá Edinburg (EPDS) để xác định đối tượng bị trầm cảm. Các nghiên cứu trên thế giới rất đa dạng về địa điếm cũng như đối tượng nghiên cứu như nghiên cứu cắt ngang của Patricia Hannah (1992) thực hiện trên 384 phụ nữ tại 2 bệnh viện Queen Charlotte’s và bệnh việc Chelsea [15] hay nghiên cứu cắt ngang trên cộng đồng cùa Niloufer s Ali (2009) với cỡ mẫu là 420 phụ nữ mới sinh con trong vòng 10 ngày [12], Tại Việt Nam, hiện chỉ có một số nghiên cứu về TCSS được tiến hành tại một số bệnh viện phụ sản của thành phố Hồ Chí Minh. Một nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên 321 phụ nữ sinh con tại bệnh viện Từ Dũ cho kết quả là 12,5% phụ nữ có triệu chứng trầm cảm [3], Nghiên cứu của Nguyễn Như Ngọc tại Bệnh 4 Viện Hùng Vương và Trung tâm bảo vệ bà mẹ và trẻ em 5 (2003), tỉ lệ này là 32,8% [2].
Tuy nhiên, khảo sát khác cũng tại tại Bệnh Viện Hùng Vương cho kết quả TCSS chiếm tỷ lệ 40,8% (2000) [2], Tuy nhiên, một nghiên cứu tương tự của Huỳnh Thị Duy Hương tại bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 cho kết quà là: 25,34% [2], Các nghiên cứu về TCSS tại Việt Nam còn rất hạn chế.