ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, các bệnh dịch do virus bùng phát rất mạnh với diễn biến phức tạp, biểu hiện đa dạng, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe, tâm lý, kinh tế cho nhiều quốc gia, nhiều bệnh dịch đã gây thành vấn đề sức khỏe toàn cầu trong đó có các vụ dịch cúm [2], [5]. Bệnh cúm là bệnh truyền nhiễm lây lan qua đường hô hấp, ghi nhận các trường hợp mắc quanh năm. Bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao, lây nhanh qua đường hô hấp thông qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng do hắt hơi, ho khạc [68]. Theo trung tâm phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), từ năm 2010 trở lại đây, mỗi năm trên thế giới có khoảng 9 - 45 triệu trường hợp mắc cúm mùa với khoảng trên 61.000 trường hợp tử vong do biến chứng viêm phổi do cúm [4].
Năm 2019, số ca mắc cúm mùa và tử vong do cúm tại Việt Nam thấp hơn so với năm 2018, cụ thể 11 tháng đầu năm 2019 ghi nhận 408.907 trường hợp mắc cúm, 10 trường hợp tử vong (giảm 10,4% số mắc và giảm 02 trường hợp tử vong so với cùng kỳ 11 tháng đầu năm 2018). Bệnh cúm là một bệnh rất phổ biến ở trẻ em. Tỷ lệ các đợt bùng phát cúm theo mùa hàng năm là cao nhất ở trẻ em, với trung bình 20-30% số trẻ em bị ảnh hưởng [36]. Thậm chí, tỷ lệ nhiễm cúm của trẻ em cao hơn lên tới 50% trong thời kỳ đại dịch [67].
Tại Việt Nam, trong 10 năm gần đây, hàng năm ghi nhận khoảng từ 1 triệu đến 1,8 triệu trường hợp mắc hội chứng cúm, nguyên nhân chủ yếu do các chủng vi rút cúm A(H3N2), cúm A(H1N1) và cúm B gây ra các biến chứng nặng và tử vong trên mọi lứa tuổi trong đó có trẻ em. Trẻ em ở độ tuổi đi học 5 – 9 tuổi có tỷ lệ nhiễm cúm khá cao, trong đó cúm theo mùa là 41,8% [34]. Trẻ em có hệ miễn dịch yếu, không có khả năng miễn dịch từ trước nên cúm mùa tuy diễn biến nhẹ nhưng có thể chuyển biến nghiêm trọng gây các biến chứng [4], [5], [53]. Trong số các trường hợp tử vong, 99% xảy ra ở trẻ em số ở các nước đang phát triển [31].
Xu hướng hiện nay là vacxin phòng bệnh và phát hiện sớm, điều trị kịp thời để làm giảm tỷ lệ tử vong. Ngoài ra, tăng cường giáo dục, nâng cao kiến thức, kỹ năng chăm sóc trẻ bệnh cúm và các biện pháp dự phòng cúm cho các bà mẹ 2 đóng vai trò quan trọng để dự phòng bệnh một cách hiệu quả và giảm tỷ lệ tử vong cho trẻ, giảm nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng. Chăm sóc, điều trị tốt, đúng cách cho trẻ mắc cúm sẽ hạn chế tối đa biến chứng xảy ra là trách nhiệm của nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng viên. Cho đến nay, những nghiên cứu về cúm mùa trên đối tượng trẻ em ở Việt Nam tiến hành chưa nhiều, đặc biệt là những đề tài đánh giá kết quả chăm sóc, điều trị ở trẻ mắc cúm mùa, vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng trẻ mắc bệnh cúm mùa và kết quả chăm sóc trẻ bệnh tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City” với hai mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhi mắc cúm mùa điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2021. Phân tích kết quả chăm sóc trẻ bệnh và một số yếu tố liên quan. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Đại cương về bệnh cúm mùa 1. Cúm mùa và đại dịch cúm Virus cúm (Influenza virus) thuộc nhóm Orthomyxoviridae và được chia thành 3 type A, B và C.
Trong quá trình lưu hành của virus cúm, các kháng nguyên trong virus luôn luôn biến đổi. Những biến đổi nhỏ liên tục gọi là “trôi” kháng nguyên (antigenic drift) thường gây nên các vụ dịch vừa và nhỏ. Những biến đổi nhỏ dần dần tích lại thành những biến đổi lớn, tạo nên phân type kháng nguyên mới gọi là “thay đổi” kháng nguyên (antigenic shift). Đó là do sự tái tổ hợp giữa các chủng virus cúm động vật và cúm người.
Và những type kháng nguyên mới này sẽ gây thành đại dịch trên toàn cầu [5]. Cúm là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây theo đường hô hấp do virus Influenza, gồm 3 type A, B và C gây ra. Virus cúm thường gây thành dịch, với biểu hiện sốt cao, đau đầu, đau cơ, mệt kéo dài, trong đó type A có thể gây thành đại dịch trên toàn cầu. Thông thường bệnh tự khỏi, tuy nhiên virus cúm gây tử vong cao ở trẻ nhỏ, người già và những người có yếu tố nguy cơ tiềm tàng, chủ yếu do biến chứng viêm phổi.
Mã số bệnh cúm trong phân loại quốc tế là ICD-10 J10-J11: Influenza và Bệnh cúm thuộc nhóm B trong Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm của Việt Nam [2]. Cúm mùa là bệnh truyền nhiễm cấp tính với biểu hiện: sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Tác nhân gây bệnh chủ yếu do các chủng virus cúm A(H3N2), cúm A(H1N1), cúm B và cúm C. Bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao, lây nhanh qua đường hô hấp thông qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng do hắt hơi, ho khạc nhổ của người mang mầm bệnh.
Theo Trung tâm Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), từ năm 2010 trở lại đây, mỗi năm trên thế giới có khoảng 9 – 45 triệu trường hợp mắc cúm với khoảng trên 61.000 trường hợp tử vong do biến chứng viêm phổi do cúm. Tại Việt Nam, 11 tháng đầu năm 2019 ghi nhận 408.907 trường hợp mắc cúm, 10 trường hợp tử vong (giảm 10,4% số mắc và giảm 02 trường hợp tử vong so với cùng kỳ 11 tháng năm 2018) [5]. 4 Cúm mùa là dạng cúm lưu hành quanh năm, cao điểm từ giữa tháng 12 đến tháng 2 với các nước ở Bắc bán cầu và từ tháng 6 đến tháng 8 ở các nước Nam bán cầu. Nếu chưa có miễn dịch phòng cúm, một số người có nguy cơ cao bị biến chứng nghiêm trọng như trẻ sơ sinh, người già, phụ nữ mang thai, người có bệnh nền như béo phì, tiểu đường, huyết áp cao, và người mắc một số bệnh mãn tính… Tỷ lệ mắc bệnh cúm là 5-10% ở người lớn và 20-30% ở trẻ em.
Trong các vụ dịch cúm hàng năm, 5-15% dân số bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Bệnh nặng và tử vong xảy ra chủ yếu ở những nhóm người có nguy cơ cao như người già và người mắc bệnh mạn tính [5]. Đại dịch cúm là sự bùng phát ở mức độ toàn cầu của một chủng cúm “mới” chưa từng được phát hiện gây bệnh ở người trước đó, do đó mọi người có ít hoặc không có khả năng miễn dịch chống lại nó. Bản chất của virus cúm “mới” gây nên các đại dịch cúm trong quá khứ chính là sự biến đổi và tái tổ hợp của các virus cúm cũ ở người và động vật qua quá trình “trôi” kháng nguyên [25].
Ngược về quá khứ, trong hơn 100 năm qua đã có 5 đại dịch cúm được ghi nhận. Trận dịch đầu tiên được xác định vào năm 1918, lây lan với tốc độ đáng kinh ngạc trên khắp thế giới, lan sang Ấn Độ, đến Australia và các đảo xa Thái Bình Dương. Chỉ trong 18 tháng, ít nhất một phần ba dân số thế giới bị nhiễm bệnh [25]. Đại dịch 1918-1919 do virus cúm A có tên là H1N1 gây ra.
Mặc dù được gọi là cúm Tây Ban Nha nhưng các nhà khoa học đã phát hiện những trường hợp mắc cúm lần đầu tiên ở Mỹ trong thế chiến thứ nhất. Đầu tháng 3/1918, một người lính Mỹ bị sốt đã được báo cáo với bệnh xá. Trong vòng vài giờ, hơn 100 binh sĩ khác gặp phải tình trạng tương tự, nhiều người ngã bệnh trong những tuần tiếp theo. Vào tháng 4, nhiều lính Mỹ đã đến châu Âu và mang theo virus.
Làn sóng đầu tiên của đại dịch bắt đầu. Chủng cúm “mới” có tốc độ lây truyền kinh hoàng, kèm theo những cái chết nhanh chưa từng thấy, Những người mắc bệnh bị sốt và khó thở. Khuôn mặt xanh xao vì thiếu oxy. Xuất huyết phổi khiến người bệnh nôn mửa, chảy máu cam, dịch tích tụ trong màng phổi và nhu mô phổi khiến cho bệnh nhân không thể thở nổi và tử vong.Không giống như rất nhiều chủng cúm trước 5 đó, cúm Tây Ban Nha tấn công không chỉ những người già hay trẻ nhỏ mà cả những người trưởng thành khỏe mạnh trong độ tuổi từ 20 đến 40.
Đại dịch khiến hầu như không có khu vực nào trên thế giới không bị ảnh hưởng.000 người chết. Mỹ mất tới 675.000 người, Nhật Bản khoảng 400. Hòn đảo phía tây Thái Bình Dương của Samoa (Samoa ngày nay) đã mất 1/5 dân số. Các nhà nghiên cứu ước tính rằng chỉ riêng ở Ấn Độ, tổng số người thiệt mạng là từ 12 đến 17 triệu.
Dữ liệu chính xác về số người chết khó nắm bắt, số liệu người chết trên toàn cầu được ước tính là từ 10-30% những người bị nhiễm bệnh [25]. Ngoài đại dịch cúm 1918, có 4 đại dịch Cúm đã xảy ra: năm 1957, 1968 và 2009 (H1N1) và đặc biệt đại dịch COVID-19 (SARS CoV -2 từ tháng 11/2019 đến nay thế giới ghi nhận 542.447 ca mắc và 6.895 trường hợp tử vong. Bệnh dịch này vẫn đang tiếp diễn với những biến chủng mới. Tác nhân gây bệnh cúm mùa Smith, Andrewes và Laidlaw đã phân lập được virus cúm A từ con chồn sương hoặc từ con chồn furô vào năm 1933 và Francis đã phân lập được virus cúm B vào năm 1936 qua việc nuôi cấy trên phôi trứng gà.
Taylor phát hiện cúm C vào năm 1950. Virus cúm thuộc họ Orthomyxoviridae, có hình cầu, đôi khi hình sợi, kích thước khoảng 80- 100 nm. Dễ bị diệt ở nhiệt độ thông thường, chịu đựng tốt ở nhiệt độ thấp. Các virus có 3 loại kháng nguyên.
Kháng nguyên S ( Soluble) là kháng nguyên hòa tan, căn cứ vào cấu trúc của kháng nguyên S, hội nghị quốc tế năm 1953 về bệnh cúm đã đặt tên và phân loại các type huyết thanh virus cúm là A, B, C. Kháng nguyên H (Hemagglutinin) là kháng nguyên ngưng kết hồng cầu giúp cho virus bám được vào tế bào. Kháng nguyên N (Neuraminidase) là kháng nguyên có tính chất men giúp virus chui vào tế bào. Cấu trúc gen của virus cúm là chuỗi đơn ARN có vỏ bọc.
Bản chất vỏ là Glycoprotein, các kháng nguyên H và N là những thành phần của vỏ virus cúm. Cấu trúc phân tử virus cúm (Nguồn: CDC 2021) [68] 1.