phần mở đầu, DSVH là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hệ thống các DSVH là tài sản chung của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, là sản phẩm được sáng tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử đất nước. Chính vì thế, DSVH là nhân tố quan trọng, là hạt nhân gắn kết cộng đồng trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Di sản văn hóa được xem như là một nguồn lực trực tiếp tham gia vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cũng là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Các DSVH như di tích lịch sử, các danh DLTC, các cổ vật, di vật, bảo vật … là một nguồn tài sản vật chất khổng lồ xét cả về mặt kinh tế và mặt tinh thần. Đây chính là nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, đặc sắc cho các địa phương trên cả nước khai thác phát triển du lịch, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo sinh kế cho người dân. Không chỉ có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, DSVH còn đáp ứng cũng như thúc đẩy đời sống tinh thần của mỗi người. Thông qua những biểu hiện khác nhau, DSVH là sợi dây nối kết cộng đồng vững chắc hướng con người trở về với cội nguồn, với những giá trị thiêng liêng của văn hóa dân 13 tộc, từ đó làm thức dậy ý chí tự chủ, tự cường dân tộc, kết nối con người vào cộng đồng, kết nối hiện tại vào truyền thống, tạo nên sức mạnh tổng thể của cả dân tộc.
Thực thi pháp luật về di sản văn hóa 1. Khái niệm pháp luật về di sản văn hóa Pháp luật về DSVH là tổng hợp quy tắc, các chuẩn mực hành vi xử sự của các chủ thể khác nhau khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khái niệm thực thi pháp luật về di sản văn hóa 1. Thực thi pháp luật Dựa vào cơ sở khoa học cũng như xét từ trong thực tiễn pháp luật tại Việt Nam, khái niệm thực thi pháp luật được giải thích với nhiều nghĩa khác nhau.
Thực thi pháp luật vốn là hành vi thực tế và thực hiện một cách hợp pháp mang theo mục đích nào đó của các chủ thể pháp luật để hiện thực hóa mọi quy định mà pháp luật ban hành, đưa chúng vào đời sống hàng ngày, trở thành những hành vi chuẩn mực được công nhận hợp pháp. Ngoài ra, trên thực tế hiện nay còn tồn tại một số khái niệm phổ biến sau: Thực thi pháp luật là một quá trình hoạt động của con người có mục đích mà các chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định pháp luật trong thực tế đời sống của cộng đồng. Theo Wikipedia thì thực thi pháp luật hay thi hành pháp luật là một hệ thống mà một số thành viên của xã hội hành động theo một phong cách có tổ chức để thực thi pháp luật bằng cách khám phá, ngăn chặn, phục hồi hoặc trừng phạt những người vi phạm luật lệ và các quy tắc chi phối xã hội đó. Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý: “Thi hành pháp luật (thực thi pháp luật) là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động” [63].
14 Như vậy hiện nay có rất nhiều khái niệm về thực thi pháp luật tồn tại, nhưng chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản thực thi pháp luật là hành vi thực tế và thực hiện một cách hợp pháp có mục đích của chủ thể pháp luật để hiện thực hóa mọi quy định mà pháp luật ban hành, đưa chúng vào đời sống hàng ngày, trở thành những hành vi chuẩn mực được công nhận hợp pháp. Khái niệm và đặc điểm thực thi pháp luật về di sản văn hóa Trên cơ sở khái niệm thực thi pháp luật nói chung, có thể đúc kết khái niệm thực thi pháp luật về DSVH là hành vi của các chủ thể (cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân) chủ động thực hiện các quy định của pháp luật về DSVH do Nhà nước ban hành nhằm đáp ứng các nhu cầu, lợi ích hợp pháp trong đời sống xã hội. Về bản chất, thực thi phát luật là hoạt động có tính chủ động, tích cực, thực hiện pháp luật dưới hình thức hành vi hành động, đối tượng thực hiện là mọi chủ thể và thường biểu hiện dưới dạng những quy phạm bắt buộc. Do đó, chủ thể buộc phải thực hiện hành vi hành động mang tính hợp pháp.
Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thực thi pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực. Đặc điểm của thực thi pháp luật về DSVH là bao giờ cũng thông qua những hành vi cụ thể của con người và phải phù hợp với các quy định hiện hành liên quan tới DSVH. Thực thi pháp luật về DSVH làm theo các yêu cầu, quy định của pháp luật về DSVH, vì vậy, thực thi pháp luật về DSVH phải là hành vi hợp pháp, tức là hành vi hoàn toàn phù hợp với các yêu cầu của pháp luật. Thực thi pháp luật về DSVH là hành vi của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật, bởi vì, chỉ các chủ thể có năng lực hành vi pháp luật mới có khả năng nhận thức được yêu cầu của pháp luật để làm đúng các yêu cầu đó.
Đối với các chủ thể không có hoặc mất năng lực hành vi pháp luật, tức là không có khả năng nhận thức thì các quy định của pháp luật không có ý nghĩa hoặc 15 không có giá trị đối với họ. Hệ thống văn bản pháp luật về di sản văn hóa Văn bản pháp lý đầu tiên về DSVH chính là Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam. Sắc lệnh số 65/SL tuy ngắn gọn, súc tích, ra đời đến nay đã 76 năm nhưng phản ánh những tư tưởng, quan điểm rất cơ bản, sâu sắc của Nhà nước ta đối với việc bảo tồn DSVH, cho đến nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn, soi sáng cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH của đất nước. Các bản Hiến pháp của Việt Nam ra đời vào các năm 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi bổ sung vào năm 2001) và 2013 cơ bản đều có quy định về việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, trong đó, Hiến pháp càng về sau càng có sự chú trọng, quan tâm, nhấn mạnh hơn đến các công tác bảo tồn DSVH dân tộc.
Công cuộc đổi mới đất nước từ sau Đại hội Đảng năm 1986 được xem là bước ngoặt trọng đại trong sự nghiệp phát triển đất nước, bên cạnh thay đổi sâu sắc trên lĩnh vực kinh tế, cả nước chuyển mình theo nền phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những chuyển biến tích cực về kinh tế đã làm cho đời sống văn hóa, xã hội, chính trị đất nước cũng từng bước thay đổi. Theo đó, nhiều chủ trương, định hướng, chính sách mới của Đảng, Nhà nước đã được cụ thể trong Hiến pháp có tác động sâu sắc đến quá trình bảo tồn, giữ gìn, phát huy DSVH. Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN7 ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được công bố theo Lệnh của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
Đây là Pháp lệnh đầu tiên quy định đối với di tích lịch sử - văn hóa và DLTC. Những nội dung cơ bản của Pháp lệnh đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của DSVH trong đời sống kính tế xã hội của đất nước. Kế thừa Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN7 ngày 31/3/1984 và để tăng cường 16 công tác quản lý phù hợp với yêu cầu, giai đoạn phát triển mới của đất nước, ngày 29 tháng 6 năm 2001, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Di sản Văn hóa. Luật Di sản Văn hóa cùng hệ thống pháp luật hiện hành về DSVH đã bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể sáng tạo, bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, trong đó có các di tích lịch sử, văn hóa và DLTC.
Luật đã tạo điều kiện và cơ hội cho các hoạt động bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và DLTC ở nước ta ngày càng thu hút được sự tham gia tích cực của toàn xã hội, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ có hiệu quả của cộng đồng quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam, ngày 18 tháng 6 năm 2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa năm 2001. Luật đã tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều khoản có nội dung còn chưa rõ, chưa chặt chẽ, chưa tương thích với các văn bản pháp luật khác của nước ta và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Nội dung của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH đã góp phần bảo đảm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật nhằm giúp cho mọi đối tượng trong xã hội đều có hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về DSVH, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích, đồng thời nâng cao vai trò quản lý và định hướng của Nhà nước để phát huy có hiệu quả hơn nữa sự tham gia, đóng góp của Nhân dân trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản.
Cùng với Luật DSVH (năm 2001) và Luật DSVH sửa đổi, bổ sung một số điều (năm 2009), Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành nhiều Nghị định, Quyết định nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật DSVH. Hiện 17 nay, hệ thống pháp luật về DSVH ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, bao gồm: 01 Luật, 01 Luật sửa đổi, bổ sung; 07 Nghị định của Chính phủ; 03 Quyết định và 01 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành 17 Thông tư, 08 Quyết định, 03 Chỉ thị theo thẩm thẩm quyền; đồng thời, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã phối hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ để ban hành 02 Thông tư liên tịch.