phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách giao đất lâm nghiệp, giao rừng. Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chính sách giao đất lâm nghiệp, giao rừng trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn 2017-2019. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm tăng cƣờng thực thi chính sách giao đất lâm nghiệp, giao rừng trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn 2020-2025. 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP, GIAO RỪNG 1.
Chính sách giao đất lâm nghiệp, giao rừng 1. Khái niệm về đất, đất lâm nghiệp, giao đất, giao rừng 1. Đất Đất là lớp ngoài cùng của thạch quyển, bị biến đổi tự nhiên dƣới tác động tổng hợp của nƣớc, không khí, sinh vật. Các thành phần chính của đất gồm: nƣớc, không khí, chất khoáng, mùn và các loại sinh vật từ vi sinh vật cho đến chân đốt, côn trùng,… Có thể hiểu ngắn gọn: Đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cây trồng.[8] Đất đai có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của mỗi quốc gia.
Theo thuật ngữ khoa học “Đất đai bao gồm các đặc tính của không khí, thổ nhƣỡng, đại chất, thủy văn, thực vật ngay trên bề mặt và dƣới những khu vực cụ thể của bề mặt Trái Đất. Đồng thời cũng là kết quả của tất cả các hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con ngƣời cũng nhƣ các loài động vật trên vùng đất đó, ở chừng mực mà những đặc tính đó có ảnh hƣởng rõ tới việc sử dụng đất bởi con ngƣời ở hiện tại và trong tƣơng lai”. Theo bề dày lịch sử của dân tộc Việt Nam từ xƣa đến nay, đất nƣớc ta đã đấu tranh để bảo vệ và giữ vững chủ quyền lãnh thổ, ngƣời dân có đất để canh tác, hoạt động lao động, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, quan điểm trên của Đảng ta hoàn toàn phù hợp với thực tiễn.
9 Theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 4 Thông tƣ 14/2012/TT- BTNMT về Quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất do Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng ban hành, đất đai đƣợc hiểu nhƣ sau: “Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tƣơng đối ổn định hoặc thay đổi nhƣng có tính chu kỳ, có thể dự đoán đƣợc, có ảnh hƣởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tƣơng lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội nhƣ: thổ nhƣỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cƣ trú và hoạt động sản xuất của con ngƣời” [8]. Theo quan điểm này về đất đai có thể hiểu đất là một hệ mở, thƣờng xuyên trao đổi chất và năng lƣợng với khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Trên giác độ sinh thái học và môi trƣờng, có thể xem đất là một cơ thể sống vì trong nó có nhiều sinh vật khác nhƣ: vi khuẩn nấm, tảo, thực vật, động vật. Do đó, đất cũng tuân thủ các quy luật sống: phát sinh, phát triển, thái hóa, già cỗi.
Nắm bắt đƣợc đặc tính này để chúng ta chủ động tác động tích cực vào đất hạn chế thoái hóa, bạc màu, rửa trôi,… làm cho đất giàu chất dinh dƣỡng tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trƣởng, phát triển của cây trồng. Đất lâm nghiệp * Khái niệm: Theo Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quy định: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng (gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) đạt tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và đất mới đƣợc trồng rừng hoặc trồng kết hợp khoanh nuôi tự nhiên” [9]. Theo quan điểm này thì đất lâm nghiệp đƣợc nhìn nhận theo hiện trạng sử dụng đất và nguồn gốc cây rừng hình thành trên đất. Theo Bộ Lâm nghiệp, đất lâm nghiệp là: Đất đang có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng; Đất chƣa có rừng đƣợc quy hoạch để gây trồng rừng, 10 khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật, gồm: Đất đƣợc quy hoạch để gây trồng rừng, không phân biệt độ dốc và đất có cây rừng tái sinh hoặc có thảm thực vật nhƣng chƣa đạt tiêu chuẩn rừng đƣợc quy hoạch để khoanh nuôi, bảo vệ thành rừng.[3] Hiện nay, khái niệm đất lâm nghiệp đƣợc quy định cụ thể: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng nhƣng chƣa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, cho thuê để trồng rừng và diện tích đất trống trong các khu rừng đặc dụng hoặc diện tích đất trống đƣợc bảo vệ trong các khu rừng khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.[10] * Phân loại đất lâm nghi ệp: Theo hiện trạng sử dụng đất, đất lâm nghi ệp có thể phân thành: Đất có rừng; Đất chƣa có rừng đƣợc quy hoạch để phát triển, phục hồi rừng.
Đất chƣa có rừng đƣợc quy hoạch để phục vụ cho trồng rừng là đất chƣa có cây hoặc đã có cây nhƣng chƣa đạt tiêu chuẩn hình thành r ừng và đƣợc quy hoạch để tái tạo, phục hồi thành rừng bằng hình th ức phát triển tự nhiên hoặc trồng rừng dƣới tác động của con ngƣời. Đất có rừng là đất có cây rừng hình thành đạt tiêu chuẩn về rừng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Theo mục đích sử dụng và quản lý: Đất lâm nghiệp gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Giao đất 11 Theo Khoản 7, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nƣớc giao đất là việc Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tƣợng có nhu cầu sử dụng đất”.
Nhƣ vậy, giao đất lâm nghiệp đƣợc hiểu là: Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất lâm nghiệp bằng quyết định hành chính cho đối tƣợng có nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp. Mỗi loại đất rừng đƣợc xác định với các mục đích khác nhau. Việc giao đất rừng sản xuất nhằm kêu gọi các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cƣ thôn bản, đầu tƣ, khai thác, sử dụng hợp lý đất rừng. Giao rừng Theo Khoản 3, Điều 2, Luật Lâm nghiệp năm 2017: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao đƣợc xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nƣớc, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trƣng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên.
Theo Điều 5, Luật Lâm nghiệp năm 2017: Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng tự nhiên và rừng trồng đƣợc phân thành 03 loại nhƣ sau: Rừng phòng hộ đƣợc sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nƣớc, bảo vệ đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trƣờng, quốc phòng, an ninh, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dƣỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trƣờng rừng; đƣợc phân theo mức độ xung yếu bao gồm: 12 Rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư; rừng phòng hộ biên giới; Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển. Rừng đặc dụng đƣợc sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, tín ngƣỡng, danh lam thắng cảnh kết hợp du lịch sinh thái; nghỉ dƣỡng, giải trí trừ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; cung ứng dịch vụ môi trƣờng rừng bao gồm: Vườn quốc gia; Khu dự trữ thiên nhiên; Khu bảo tồn loài - sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rừng tín ngưỡng; rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; vườn thực vật quốc gia; rừng giống quốc gia. Rừng sản xuất đƣợc sử dụng chủ yếu để cung cấp lâm sản; sản xuất, kinh doanh lâm, nông, ngƣ nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái, nghỉ dƣỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trƣờng rừng. Nhƣ vậy có thể hiểu: Giao rừng là Nhà nước trao quyền sử dụng rừng gắn liền với đất lâm nghiệp bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng rừng.
Khái niệm về chính sách giao đất lâm nghiệp, giao rừng 13 Chính sách là một thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, sách báo cũng nhƣ đời sống xã hội. Trong phạm vi đề tài này, tác giả đƣa ra khái niệm nhƣ sau: Chính sách: là tập hợp các biện pháp đƣợc thể chế hóa (về mặt pháp lý) để phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội, điều chỉnh động cơ hoạt động của các nhóm hƣớng theo mục tiêu phát triển xã hội.[11] Chính sách công: là những định hƣớng mục tiêu và biện pháp hành động, đƣợc Nhà nƣớc lựa chọn và ban hành nhƣ một công cụ quản lý của Nhà nƣớc, nhằm giải quyết các vấn đề công cộng đƣợc lựa chọn và đƣợc bảo đảm thực thi bởi các chủ thể có thẩm quyền.[11] Nhƣ vậy, có thể hiểu Chính sách giao đất lâm nghiệp, giao rừng là một chính sách công được Nhà nước ban hành, nhằm thực hiện việc giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tham gia quản lý, bảo vệ, chăm sóc, nuôi trồng, khai thác, tận dụng sản phẩm của rừng với mục đích ngăn chặn nạn phá rừng đồng thời thực hiện trồng rừng và cải thiện môi trường sinh thái và đảm bảo an ninh, quốc phòng. Vai trò của chính sách giao đất lâm nghiệp, giao rừng Chính sách giao đất lâm nghiệp, giao rừng có vai trò nhằm: Khai thác hiệu quả tiềm năng về đất đai: Thực tế, diện tích đất lâm nghiệp, diện tích rừng tại các địa phƣơng phân bố không đồng đều, địa hình khó khăn, hiểm trở,… Nhà nƣớc không đủ nguồn lực thực thi hiệu quả quản lý toàn bộ hệ thống đất lâm nghiệp và rừng.