Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện Xã hội loài người là tổng thể các mối quan hệ giữa con người và con người. Những mối quan hệ đó được hình thành và phát triển theo xu hướng đa dạng, đa chiều và phức tạp, tạo thành những mắt xích trong mạng lưới xã hội liên kết các cá nhân lại với nhau.
Khi cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội, nhằm đạt được những lợi ích của riêng mình đã làm xuất hiện những mâu thuẫn, tranh chấp. Để duy trì ổn định, trật tự xã hội, củng cố các mối quan hệ trong xã hội thì phải tìm các biện pháp hòa giải các tranh chấp đó. Một trong những biện pháp giải quyết các tranh chấp đó là hòa giải. Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp.
Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải. Theo từ điển Black’s Law Dictionary định nghĩa hòa giải (conciliation) là “sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải, hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ” [58, tr. Từ điển pháp lý của Rothenberg định nghĩa hòa giải là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít” [59, tr. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý Bộ tư pháp, thì hòa giải là “việc thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa”.
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về hòa giải nhưng những khái niệm đó đều cho thấy hòa giải có ba yếu tố: thứ nhất, phải có tranh chấp giữa hai bên; thứ hai, có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc 7 nhượng bộ của mỗi bên; thứ ba, trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập cho ý kiến tư vấn đồng thời công nhận thủ tục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp. Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá trình này không được gọi là hòa giải mà là thương lượng giữa các bên. Theo quy định của BLTTDS năm 2015, thì hòa giải vừa là nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự, vừa là chế định quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự, là phương thức giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của đương sự mà mang lại hiệu quả thi hành án cao và góp phần giảm kinh phí giải quyết tranh chấp cho cả nhà nước và các đương sự nếu việc hòa giải thành công. Trong việc giải quyết vụ án dân sự, Tòa án đóng vai trò là trung gian hòa giải, giúp đỡ các bên đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án.
Điều này có nghĩa, “hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự về việc giải quyết vụ án với sự giúp đỡ của Tòa án nhân dân nhằm hướng sự thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự đúng pháp luật và chính sách…” Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hòa giải là một thủ tục đặc trưng và mang tính bắt buộc đối với Tòa án trước khi mở phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án mà pháp luật quy định phải hòa giải”. Khi tiến hành hòa giải, Tòa án thực hiện theo một trình tự và thủ tục nhất định. Bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia có thể được tổ chức khác nhau nhưng về cơ bản chúng có ba bộ phận hợp thành, gồm: hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống cơ quan tư pháp có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau để thực hiện chức năng của nhà nước. Mỗi hệ thống này có cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn xác định để tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước dưới dạng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Trên phương diện tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, tư pháp là một nhánh quyền lực độc lập với quyền lập pháp, quyền hành pháp. Trong hệ thống cơ quan tư pháp, Tòa án có vị trí trung tâm thực hiện chức năng xét xử bảo vệ các giá trị mà xã hội ghi nhận. Ở nước ta, bộ máy nhà nước được tổ chức theo kiểu nhà nước XHCN, nhiệm vụ của 8 nhà nước XHCN là thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội. “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Qua đó cho thấy ở Việt Nam quyền tư pháp luôn gắn bó chặt chẽ với quyền lập pháp và hành pháp trong tổng thể của quyền lực nhà nước. Trong khi hoạt động chủ yếu của cơ quan lập pháp là ban hành hiến pháp, pháp luật; của cơ quan hành pháp là tổ chức thực hiện pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trong giới hạn mà pháp luật quy định. Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiện tượng xâm phạm hiến pháp và pháp luật luôn là một nguy cơ trong đời sống xã hội. Để bảo vệ pháp luật, khôi phục trật tự pháp luật bị xâm phạm là một đòi hỏi khách quan của xã hội, từ đó hình thành nên hoạt động bảo vệ pháp luật là nội dung cơ bản của quyền tư pháp.
Hoạt động của Tòa án là lĩnh vực thể hiện tập trung của quyền tư pháp. TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. TAND cấp huyện là một bộ phận của TAND. Tòa án được thành lập để nhân danh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thực hiện chức năng xét xử.
Tổ chức TAND gồm có: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt TAND cấp tỉnh), TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (gọi tắt TAND cấp huyện), Tòa án quân sự. Như vậy, TAND cấp huyện là một bộ phận của hệ thống TAND thực hiện chức năng xét xử ở phạm vi lãnh thổ cấp huyện. Đây là cấp Tòa án thực hiện xét xử thấp nhất tại địa phương đối với các vụ án được pháp luật quy định. Pháp luật về hòa giải tại toà án nhân dân cấp huyện là tổng hợp các QPPL do các CQNN có thẩm quyền ban hành theo trình tự, hình thức luật định, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh về việc hòa giải tại TAND cấp huyện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, góp phần nâng cao hiệu quả các vụ án tại TAND cấp huyện.
9 Thự hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật và được thực hiện trong thực tế cuộc sống. Như vậy, theo tác giả có thể hiểu: Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập mà cụ thể là TAND cấp huyện, giúp các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện 1. Đặc điểm về bản chất Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện về bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự.
Mặc dù thực hiện pháp luật về hòa giải là một hoạt động do Tòa án tiến hành nhưng về bản chất hòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đương sự. Chỉ có các đương sự mới có quyền hòa giải với nhau về tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong vụ án, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh chấp. Khi tham gia vào quá trình hòa giải, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết những bất đồng về quyền lợi của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện ý chí, thỏa thuận. Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý muốn của các đương sự đề bị coi là trái pháp luật và không được công nhận.
Mặc dù các đương sự có quyền tự thỏa thuận nhưng thỏa thuận của các đương sự phải trong khuôn khổ pháp luật nên thỏa thuận của các đương sự phải được Tòa án công nhận khi không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. TAND cấp huyện cần phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong việc hòa giải những vụ việc thuộc thẩm quyền của mình theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc theo các trường hợp khác mà pháp luật quy định để vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; chịu sự điều chỉnh của quy chế, quy định 10 riêng về quy tắc ứng xử, về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của nội bộ hệ thống Tòa án. Đặc điểm về chủ thể Tòa án nhân dân cấp huyện là chủ thể trung gian tiến hành hòa giải, có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau. Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện về bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự nhưng Tòa án là chủ thể không thể thiếu trong quá trình hòa giải đó.
TAND cấp huyện phân công Thẩm phán tham gia vào quá trình hòa giải với vai trò là người tổ chức, xác định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hòa giải, giải thích pháp luật và nội dung tranh chấp để các đương sự thỏa thuận với nhau. Thẩm phán không can thiệp vào nội dung thỏa thuận của các bên đương sự. Khi hòa giải, Thẩm phán chủ động giải thích pháp luật liên quan đến quan hệ tranh chấp, động viên, khuyên giải, giúp đỡ họ tháo gỡ những vấn đề vướng mắc trong tâm tư tình cảm của mình. Và kết quả thỏa thuận của các đương sự là do các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình và Tòa án không hề tham gia vào hoạt động thỏa thuận đó.