Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở 1.
Khái niệm hòa giải ở cơ sở Trong các hình thức hòa giải ngoài tố tụng, hòa giải ở cơ sở là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng, có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời tại Việt Nam và được sử dụng phổ biến trong cộng đồng dân cư. Trước năm 1945, trong bối cảnh chế độ phong kiến và sau đó là chế độ thực dân nửa phong kiến, do tính tự quản cao của các làng xã, việc hòa giải các mâu thuẫn nhỏ trong nội bộ nhân dân chủ yếu dựa trên các hương ước, khoán ước của từng làng. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về hòa giải. Đáng chú ý, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 và Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, đã giao nhiệm vụ cho Ban Tư pháp xã thực hiện hòa giải tất cả các tranh chấp về dân sự và thương sự.
Giai đoạn này, công tác quản lý hoạt động hòa giải thuộc trách nhiệm của ngành Tư pháp, thể hiện bước chuyển đổi từ cơ chế hòa giải dựa trên phong tục tập quán sang nền tảng pháp lý hiện đại, phù hợp với sự phát triển của nhà nước dân chủ nhân dân. Năm 1961, công tác quản lý hoạt động hòa giải được chuyển giao cho Tòa án nhân dân tối cao. Để cụ thể hóa nhiệm vụ này, ngày 26/02/1964, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 02-TC, trong đó hướng dẫn việc xây dựng tổ hòa giải và kiện toàn tổ tư pháp tại các xã, khu phố. Thông tư này nêu rõ tổ hòa giải là một tổ chức mang tính xã hội, không có chức năng phân xử mà chủ yếu thực hiện nhiệm vụ giải thích, thuyết phục, nhằm hỗ trợ các bên tự nguyện giải quyết những xung đột, tranh chấp trên cơ sở tình lý và sự đồng thuận.
Điều này đánh dấu sự thừa nhận của nhà nước về vai trò của hòa giải trong việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục kế thừa và ghi nhận quy định này tại Điều 127. 8 Ngày 25/12/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Sau đó, ngày 18/10/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh.
Hai văn bản pháp luật đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc đưa hoạt động hòa giải ở cơ sở trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp chính thức, được pháp luật điều chỉnh. Sau hơn 13 năm thi hành, Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như hệ thống văn bản quy định về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở còn chung chung, chưa thống nhất, đồng bộ, đầy đủ và không còn phù hợp với tình hình thực tiễn. Do vậy, ngày 20/6/2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở kỳ họp thứ 5. Luật Hòa giải cơ sở năm 2013 tiếp tục kế thừa và hoàn thiện những quy định về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Đến nay, hòa giải ở cơ sở được xem là giải pháp hiệu quả để xử lý những mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân. Hòa giải ở cơ sở được định nghĩa tại khoản 1 điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 như sau: “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này” [17]. Trong đó: Cơ sở được hiểu là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (gọi chung là thôn, tổ dân phố). Các bên ở đây là cá nhân, nhóm cá nhân, gia đình, nhóm gia đình, tổ chức có mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định.
Hòa giải viên là người được công nhận theo quy định để thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở. Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp sau đây: mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải; vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính; mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật. Như vậy, có thể hiểu rằng, hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận và tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp hoặc vi phạm pháp luật trong phạm vi Luật Hòa giải ở cơ sở điều chỉnh thông qua việc khuyến khích, thuyết phục các bên nhằm xóa bỏ mâu thuẫn, bất đồng, từ đó góp phần xây dựng tinh thần đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ gìn 9 tình làng nghĩa xóm, đồng thời phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật, giúp giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư. Khái niệm pháp luật về hòa giải ở cơ sở Pháp luật về hòa giải ở cơ sở là một lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở.
Những quy phạm pháp luật này được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức theo quy định pháp luật. Pháp luật về hòa giải ở cơ sở được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật như Luật Hòa giải ở cơ sở, các nghị định, thông tư hướng dẫn kèm theo và các quy định liên quan trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, và các lĩnh vực pháp luật khác. Tuy nhiên, trong đề án giới hạn phạm vi điều chỉnh cụ thể pháp luật về hòa giải ở cơ sở là hệ thống các quy phạm pháp luật trong Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định rõ nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; quy định về hòa giải viên và tổ hòa giải; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội sắc bén, song pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống.
Vì vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu kể từ khi pháp luật xuất hiện [20]. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về thực hiện pháp luật. Theo Từ điển Luật học Việt Nam: “Thực hiện pháp luật là việc các chủ thể trong xã hội tuân thủ và áp dụng các quy định pháp luật trong hoạt động của mình, đảm bảo cho pháp luật được thực thi trong đời sống xã hội”. Theo giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật năm 2019 của Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [10].
Theo giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật năm 2023 của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể được hình thành trong quá trình hiện thực hóa các quy định của pháp luật” [20]. 10 Theo giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Học viện Hành chính Quốc gia: “Thực hiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [8]. Các khái niệm trên đều khẳng định thực hiện pháp luật là một hoạt động mang tính liên tục, có tổ chức và mục đích nhằm đưa các quy tắc pháp luật vào cuộc sống, đảm bảo pháp luật được thực thi hiệu quả. Đồng thời, các khái niệm cũng nhấn mạnh vai trò chủ động của các chủ thể pháp luật, bao gồm cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước trong việc tuân thủ và áp dụng pháp luật.
Các khái niệm về thực hiện pháp luật tuy có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng sự khác biệt trong cách tiếp cận và nhấn mạnh các yếu tố khác nhau của quá trình này, cụ thể Từ điển Luật học Việt Nam nhấn mạnh đến việc "tuân thủ và áp dụng pháp luật", tập trung vào việc đảm bảo các quy định pháp luật được thực thi trong đời sống xã hội, mà không làm nổi bật yếu tố chủ thể cụ thể hay tính có mục đích. Trong khi đó, khái niệm từ giáo trình của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Luật Hà Nội lại nhấn mạnh rõ hơn về tính "hợp pháp và có mục đích" của hành vi, đồng thời đề cao vai trò chủ thể trong việc hiện thực hóa các quy định pháp luật. Đặc biệt, giáo trình của Học viện Hành chính Quốc gia chú trọng đến yếu tố "quá trình", nhấn mạnh sự chuyển hóa các quy tắc pháp luật thành hoạt động thực tế, thay vì chỉ tập trung vào kết quả như trong các định nghĩa khác. Những khác biệt này phản ánh sự đa dạng trong cách tiếp cận, với mỗi khái niệm làm nổi bật các khía cạnh khác nhau như vai trò chủ thể, quá trình, mục đích hay kết quả của việc thực hiện pháp luật.