CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm về hộ tịch và đăng ký hộ tịch * Khái niệm về hộ tịch Xét về những tiêu chí, những góc độ đánh giá, thời điểm lịch sử khác nhau để đưa ra những khái niệm về hộ tịch. Theo tiếng Việt “hộ tịch” được ghép bằng hai từ có nghĩa là “hộ” và “tịch”.
Hộ” là một từ có nghĩa chỉ cư dân, nhà ở hay là đơn vị để quản lý dân số chỉ những người cùng ăn ở với nhau trong một gia đình. Dó đó, với cách hiểu dưới góc độ ngôn ngữ “hộ tịch” được hiểu sổ sách đăng ký về dân cư. Theo từ điển ngôn ngữ, từ điển Hán Việt “hộ tịch” là “sổ biên dân số có ghi rõ tên họ quên quán và chức nghiệp của từng người” [20, tr. Hoặc hộ tịch được hiểu là “Quyển sổ” ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [12, tr.
321]; “Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp của dân cư ngụ trong xã phường” [21, tr. Như vậy, về nghĩa nội hàm khái niệm hộ tịch có thể được hiểu chung nhất là quyển sổ chứa đựng các thông tin cơ bản của cá nhân như họ, tên, nghề nghiệp, quê quán của cư dân. Ngoài cách hiểu hộ tịch là quyển sổ, là sự vật thì “hộ tịch” còn được hiểu là sự kiện phát sinh trong đời sống của một con người thuộc sự quản lý của pháp luật [38, tr. Mỗi quốc gia trên thế giới có khái niệm khác nhau về hộ tịch như trong tiếng Anh thì được dịch và hiểu là việc đăng ký đúng thời hạn các sự kiện nhân thân với chính quyền hoặc đăng ký dân sự của cá nhân.
Nghĩa nội hàm chung nhất, 8 hộ tịch là hoạt động đăng ký tình trạng dân sự của cá nhân. Ở Việt Nam, quan niệm này cơ bản đồng nhất trong các văn bản pháp luật về hộ tịch hiện hành được hiểu là những sự kiện nhân thân của con người từ khi sinh ra đến khi chết đi được xác nhận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào sổ hộ tịch [15, tr. * Khái niệm về đăng ký hộ tịch: “đăng ký” được hiểu là việc xác nhận, việc ghi vào sổ. Quan niệm về đăng ký hộ tịch ở các giai đoạn khác nhau, thể hiện theo mục đích của chủ thể thực hiện.
Nếu như trước đây, việc ghi chép vào sổ các sự kiện về hộ tịch để quản lý những biến động tự nhiên và biến động xã hội để công dân có nghĩa vụ đối với giai cấp thống trị được hiểu là việc đăng ký hộ tịch. Còn hiện nay, việc đó được xác định cụ thể hơn bởi chủ thể là cơ quan nhà nước có thẩm quyền được phân công nhiệm vụ ghi hoặc xác nhận các sự kiện nhân thân của công dân thuộc quyền quản lý. Mục đích để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của dân cư, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với dân cư [15, tr. Khái niệm này đã thể hiện vai trò, mục đích quản lý nhà nước trong công tác hộ tịch.
Khái niệm pháp luật về hộ tịch và thực hiện pháp luật về hộ tịch. * Pháp luật về hộ tịch: là những quy định do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước và công dân trong lĩnh vực hộ tịch. Những quy định đó là cơ sở để đảm bảo để công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực hộ tịch. Những quy định này mang tính chất bắt buộc thực hiện đối với mọi chủ thể trong xã hội.
Ví dụ, con người khi sinh ra phải được khai sinh và Giấy khai sinh được coi là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. * THPL về hộ tịch: là những hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cá nhân thực hiện các quyền nghĩa vụ trong việc đăng ký hộ tịch, trong việc quản lý mối quan hệ phát sinh giữa nhà nước và công dân trong lĩnh 9 vực hộ tịch hay được hiểu là hoạt động quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch, mang tính quyền lực nhà nước, chủ thể thực hiện là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ, UBND các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc UBND, đội ngũ công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch). Chủ thể, đối tượng và nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch 1. Chủ thể thực hiện Trong THPL luôn tồn tại mối quan hệ giữa quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể tham gia.
Chủ thể ở đây là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cá nhân, tổ chức liên quan tham gia vào mối quan hệ pháp luật đó. Luật Hộ tịch 2014 đã quy định cụ thể rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương THPL về hộ tịch. Cơ quan trung ương cao nhất là chính phủ và cơ quan thẩm quyền thấp nhất ở địa phương cơ sở là UBND xã, công chức làm công tác hộ tịch. Theo thẩm quyền và chức năng các chủ thể đó thực hiện quyền và nghĩa vụ khi THPL về hộ tịch [15, tr.
Đối tượng thực hiện Để xác định tình trạng nhân thân, các sự kiện hộ tịch thì cá nhân, tổ chức là chủ thể THPL về hộ tịch sẽ đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký và để được xác nhận sự kiện đó. Điều này thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân trong mối quan hệ THPL về hộ tịch với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do vậy, đối tượng THPL về hộ tịch là các quan hệ xã hội phát sinh của mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết đi: sinh; kết hôn; nhận cha, mẹ, con; giám hộ; cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch, khai tử. Nội dung, đặc điểm thực hiện: có thể khái quát nội dung, đặc điểm THPL về hộ tịch bao gồm 2 vấn đề chủ yếu là đăng ký hộ tịch và quản lý hộ tịch.
* Thực hiện pháp luật về đăng ký hộ tịch 10 Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử. Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.
* Thực hiện pháp luật về quản lý hộ tịch Quản lý hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý nhà nước. Thông qua việc đăng ký hộ tịch, Nhà nước nắm được tình hình biến động dân cư và sự biến động của xã hội giúp nhà nước có cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội và là cơ sở để hoạch định chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Quản lý hộ tịch là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình. Mọi quốc gia trên thế giới, dù ở bất kỳ chế độ chính trị với trình độ phát triển như thế nào cũng đều quan tâm.
Một nhà nước muốn 11 hoạt động hiệu quả cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật thì trước hết phải làm tốt vai trò quản lý của mình bằng cách cập nhật thường xuyên các thông tin, dữ liệu về dân cư (sinh, tử) có được từ hoạt động quản lý về hộ tịch. Vì một mặt, đó là những dữ liệu cần thiết của mọi bài toán hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Mặt khác, nó là một hoạt động thể hiện tập trung, sinh động mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Quản lý hộ tịch là một nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp.
Các cơ quan có thẩm quyền quản lý hộ tịch gồm: Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao, các cơ quan đại diện, Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, UBND cấp tỉnh, Sở Tư pháp, UBND cấp huyện, phòng Tư pháp, UBND cấp xã. Thủ tục đăng ký hộ tịch là một loại thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với hoạt động tư pháp, đó là cách thức, trình tự luật định mà các cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch và cá nhân, tổ chức có yêu cầu đăng ký hộ tịch phải tuân thủ khi thực hiện việc đăng ký một sự kiện hộ tịch. Thủ tục đăng ký hộ tịch được quy định chặt chẽ bởi các quy phạm pháp luật về thủ tục hành chính. Trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta, các quy phạm pháp luật về thủ tục nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Công tác quản lý hộ tịch không chỉ là công tác quản lý hành chính đơn thuần của Nhà nước là ghi vào sổ hộ tịch xác nhận những việc liên quan đến hộ tịch (họ tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch), mà còn có ý nghĩa quan trọng làm phát sinh những hậu quả về mặt pháp lý, liên quan đến một số lĩnh vực pháp luật trong nước và cả trong tư pháp quốc tế.