CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC 1. Chính sách dân tộc 1. Khái niệm dân tộc Qua quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người dân tộc được hình thành, đây là một trong những hình thái cộng đồng người, ở Việt Nam và trên thế giới vấn đề dân tộc và công tác dân tộc là một trong những nội dung quan trọng và phức tạp.
Có thể hiểu về khái niệm dân tộc theo hai nghĩa phổ biến như sau: Một là, “dân tộc” được hiểu là “tộc người” (Ethnics). Đó là cộng đồng người tự ý thức về tộc thuộc, có ngôn ngữ chung, có những đặc điểm văn hóa chung và có sự chia sẻ về ký ức lịch sử (nguồn gốc, tổ tiên, nơi xuất cư. Trong bối cảnh toàn cầu hóa khiến quan hệ giao lưu, hôn nhân hỗn hợp dân tộc đang diễn ra mạnh mẽ, với mỗi cá nhân, có thể tồn tại đa bản sắc văn hóa tộc người và thuộc về hơn một tộc người.141] Hai là, về khái niệm dân tộc, có thể định nghĩa dân tộc ở hai mức độ. Trước hết, dân tộc với nghĩa hẹp, như là tộc người.
Ở đây, thuật ngữ Nation có liên quan đến từ Latin là Natio - với hàm nghĩa mối quan hệ có cùng dòng máu, tức mối quan hệ chung tổ tiên, mà phần lớn có ý nghĩa huyền thoại. Thứ hai, dân tộc với nghĩa rộng, như siêu cộng đồng dân cư, chỉ hình thành khi có nhà nước, với một lãnh thổ, cấu trúc kinh tế, xã hội và chia sẻ những giá trị văn hóa chung. Vẫn theo nghĩa rộng, đến nay có hai quan điểm lớn về khái niệm dân tộc.253-254] Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận văn, khái niệm “dân tộc” được hiểu theo nội hàm thứ nhất, tức là “tộc người”. Khái niệm chính sách dân tộc Chính sách công là một lĩnh vực rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội vì thế đã được nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, theo đó có thể hiểu khái niệm về chính sách công (CSC) như sau: CSC là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó được định hướng mục tiêu và cách giải quyết những vấn đề công trong xã hội.51] Từ khái niệm về chính sách công, xét thấy rằng chính sách công bắt nguồn từ 10 các Quyết định do Nhà nước ban hành, các Quyết định hành động hướng tới giải quyết vấn đề công trong xã hội, bao gồm các mục tiêu và giải pháp nhằm tạo ra sự thay đổi và đạt mục tiêu trong quá trình quản lý nhà nước của các các cơ quan ban ngành từ Trung ương đến địa phương.
Đầu ra của quá trình quản lý nhà nước và sản phẩm của đội ngũ cán bộ, công chức được thể hiện cụ thể thông qua các chính sách công. Trên cơ sở khái niệm về chính sách công, có thể hiểu chính sách dân tộc như sau: “Chính sách dân tộc là quan điểm, chủ trương, các quyết định của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc với mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm bảo đảm và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển và xây dựng đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo giữ gìn phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước”. Đặc điểm của chính sách dân tộc Chính sách dân tộc được hoạch định đều hướng đến giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc, giúp đồng bào dân tộc xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững, giảm dần sự phát triển chênh lệch giữa các dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thể hiện nguyên tắc cơ bản: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển. Theo đó, có thể khái lược đặc điểm chính sách dân tộc ở một số nội dung cơ bản sau: - Tính tổng hợp: Xem xét, giải quyết từng vấn đề phải đặt trong mối quan hệ với các vấn đề khác, đảm bảo lợi ích của dân tộc và cộng đồng quốc gia dân tộc.
Trong bối cảnh đất nước đa tộc người mang đậm nhiều nét văn hóa đặc trưng riêng góp phần tạo ra nền văn hóa Việt Nam phong phú, thì vấn đề dân tộc vừa là vấn đề giai cấp, đồng thời là vấn đề quốc phòng - an ninh nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đây là đặc trưng, góp phần tạo nên diện mạo lịch sử, văn hóa của Việt Nam và đồng thời là một đặc điểm lớn trong chính sách dân tộc. Do đó, một chính sách dân tộc được ban hành ra phải xem xét tính tổng hợp của các vấn đề trong xã hội để vừa giải quyết tốt vấn đề dân tộc, đồng thời cũng giải quyết tốt các vấn đề khác. - Tính toàn diện: Bao hàm các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, quan tâm tới các giai tầng xã hội, các dân tộc trong cộng đồng.
11 Giải quyết vấn đề dân tộc tác động đến toàn thể hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, bởi vấn đề dân tộc là phức tạp cho nên khi giải quyết tốt vấn đề dân tộc không chỉ giải quyết ở một lĩnh vực cụ thể như chính trị, xã hội mà còn tác động đến nhiều lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục, y tế, tôn giáo… Chính sách dân tộc có thể là một vấn đề hoặc nhiều vấn đề nhưng để thực hiện có hiệu quả thì các giải pháp tổ chức thực hiện phải mang tính toàn diện. Chính sách dân tộc không chỉ biểu hiện sự quan tâm một mặt nào đó mà còn là biểu hiện sự quan tâm toàn diện đến các dân tộc thiểu số về tất cả các lĩnh vực của đời sống, xã hội. - Tính cụ thể: Gắn với từng dân tộc cụ thể, trong điều kiện và bối cảnh cụ thể. Những chủ trương, đường lối của Đảng luôn chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định chính sách dân tộc, hướng tới triển khai các chính sách đạt mục tiêu.
Các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc Các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc đã được hình thành ngày từ thời kỳ dựng nước và thông qua quá trình xây dựng, phát triển đất nước thì những nguyên tắc này đã ngày càng hoàn thiện hơn. Trong quá trình hội nhập và phát triển các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc tiếp tục được khẳng định, hoàn thiện và bổ sung thêm. Nếu như trong các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh: đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc thì từ Đại hội VI trở đi các nguyên tắc này đã được xác định là: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau” (Đại hội VI), “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau” (Đại hội VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển” (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” (Đại hội X)… Tại Hội nghị Trung ương 7 khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 24- NQ/TW, ngày 12/03/2003 về công tác dân tộc. Nghị quyết đã đề cập toàn diện, tổng thể về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc ở nước ta, bên cạnh đó cũng tập trung vào những nội dung có tính chiến lược, cấp bách của công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới đất nước, đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đối với một quốc gia có nhiều dân tộc, sự bình đẳng giữa các dân tộc vừa là 12 quyền nhưng cũng đồng thời là nguyên tắc trong quan hệ dân tộc nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của các dân tộc và tinh thần đoàn kết thống nhất. Ngay từ khi nhà nước Việt Nam non trẻ ra đời sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám, Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định nguyên tắc bình đẳng “tất cả các công dân Việt nam phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá…” (Điều 6), vấn đề hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số cũng được xác định tại Hiến pháp “ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, nhưng quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để nhanh chóng tiến kịp trình độ chung” (Điều 8). Các Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992, năm 2013 đều long trọng công bố quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Tại Khoản 2 Điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định rõ: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”.
Đoàn kết dân tộc là một nguyên tắc nhất quán, xuyên suốt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước, được Đảng ta quan tâm hàng đầu, bởi vậy trong quá trình hoạch định chính sách dân tộc luôn chú trọng đến vai trò của đoàn kết dân tộc như một kim chỉ nam giúp hoạch định được chính sách phù hợp với thực tiễn đời sống của đồng bào các dân tộc. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được quan tâm hàng đầu, đây cũng là nhiệm vụ hàng đầu được Đảng và Nhà nước chú trọng nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu của đất nước. Sự đồng thuận của toàn thể hệ thống chính trị là hết sức quan trọng vì thế cần có chính sách và phương pháp phù hợp với từng đối tượng để thu hút được mọi lực lượng tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân. Những phương pháp và chính sách đó có thể được quan tâm điều chỉnh phù hợp trong từng giai đoạn khác nhau, đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa chiến lược đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Bởi vậy, không thể xem nhẹ vấn đề này ở bất kỳ giai đoạn nào mà cần phải phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết nhằm góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước. Tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.