CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm liên quan 1.1 Các khái niệm liên quan đến dân tộc Dân tộc Khái niệm “dân tộc” là một khái niệm được các nhà khoa học rất quan tâm. Bởi vì cho đến nay khái niệm này vẫn còn nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, khái niệm này ở nước ta được dùng với hai nghĩa: 1. Khi nói đến dân tộc Kinh (Việt), dân tộc Tày hay dân tộc Ba Na chúng ta hiểu đó là một cộng đồng tộc người, gọi tắt là tộc người tương ứng với thuật ngữ ethnicity.
Khi gọi là dân tộc Việt Nam ta lại hiểu đó là quốc gia Việt Nam với một chỉnh thể chính trị nhất định, có lãnh thổ, có tiếng nói giao tiếp chung giữa các tộc người trong một quốc gia, có một ý thức tự giác của mỗi người là thành viên của dân tộc đó bên cạnh về ý thức tộc người của mình. Dân tộc hiểu theo ý nghĩa này dùng để chỉ thuật ngữ dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc [16; tr. Như vậy khái niệm dân tộc cần được hiểu theo hai bình diện, dân tộc là cộng đồng tộc người và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là quốc gia dân tộc. Tuy nhiên trong luận văn này, tác giả chỉ sử dụng khái niệm dân tộc tương ứng với thuật ngữ tộc người (ethnicity).
Dân tộc thiểu số. Khái niệm dân tộc thiểu số được phát sinh vào thế kỷ XIX ở phương Tây, sau đó lan rộng ra toàn thế giới cùng với quá trình bành trướng của chủ nghĩa thực dân. Cho đến nay, khái niệm dân tộc thiểu số được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau. 15 Theo từ điển tiếng Việt: Dân tộc thiểu số là dân tộc chiếm số dân ít so với số dân đông nhất trong một nước nhiều dân tộc (Viện Ngôn ngữ, 1998).
Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995 định nghĩa: Dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít, cư trú trong một quốc gia thống nhất đa dân tộc, trong đó, có một dân tộc chiếm dân số đông. Trong các quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: ý thức về Tổ quốc mình sinh sống và ý thức về dân tộc mình. Các dân tộc thiểu số có thể cư trú tập trung hoặc rải rác, xen kẽ nhau, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện phát triển kinh tế xã hội còn khó khăn. Vì vậy, Nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc nhằm xóa bỏ những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế xã hội giữa các dân tộc đông người và các dân tộc thiểu số.
Giáo sư Louis Wirth, Trường Đại học Chicago (Mỹ) cho rằng: Dân tộc thiểu số là nhóm người có một số nét đặc thù về ngoại hình, thể chất, hay văn hóa, bị đối xử khác biệt, bất bình đẳng so với các thành viên khác của xã hội và do đó tự coi mình là đối tượng của một sự kỳ thị tập thể. Từ điển Bách khoa các dân tộc Mỹ, xuất bản năm 1962 quan niệm: Dân tộc thiểu số là nhóm người có những đặc điểm riêng về nhân chủng, tôn giáo, xã hội và kinh tế khác biệt với nhóm chủ yếu trong xã hội. Liên Hiệp Quốc (1982) định nghĩa: Dân tộc thiểu số là tập hợp những người có lịch sử và diện mạo văn hóa riêng, tồn tại và phát triển trên phần lãnh thổ thường là cách biệt với các vùng trung tâm cho đến trước khi bị xâm nhập bởi các xã hội từ bên ngoài. Họ tồn tại như những bộ phận xã hội dễ bị tổn thương và dễ nằm ngoài lề của sự phát triển.
16 Ngân hàng Phát triển Châu Á (1999) cho rằng: Dân tộc thiểu số là nhóm người có đặc điểm xã hội, văn hóa khác biệt với các dân tộc đa số. Các đặc điểm này làm cho họ bất lợi trong quá trình phát triển của mình. Ngân hàng Thế giới (2000) đưa ra định nghĩa rất chi tiết và cụ thể: Dân tộc thiểu số là các cộng đồng người có đặc điểm riêng biệt liên quan tới tính gắn bó với đất đai tổ tiên, với các thiết chế xã hội truyền thống, sản xuất tự cung tự cấp, có ngôn ngữ, nhân dạng, bản sắc xã hội và văn hóa khác hẳn với những người đa số. Sản xuất tự cung, tự cấp là đặc điểm kinh tế nổi bật.
Do những hoàn cảnh riêng, họ thường có địa vị xã hội và kinh tế thấp. Tất cả những điều đó làm hạn chế khả năng bảo vệ các lợi ích và chủ quyền về đất đai và nguồn lực sản xuất khác, hạn chế khả năng tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển cho chính họ, cũng như làm cho họ dễ bị thiệt thòi trong quá trình phát triển. Về mặt đời sống và thu nhập, các dân tộc thiểu số là bộ phận dân cư nghèo nhất trong xã hội. Văn hóa, đất đai và các nguồn lực được kết hợp với nhau một cách độc đáo và dễ bị tổn thương bởi các thay đổi do các dự án phát triển gây ra [21].
Theo các định nghĩa trên, ở Việt Nam, trừ người Kinh là dân tộc đa số, các dân tộc còn lại đều là dân tộc thiểu số. Tộc người Tộc người là khái niệm nền tảng của Dân tộc học (Ethnology, Ethnography) cũng như Nhân học (Anthropology). Tuy nhiên hiện nay người ta vẫn chưa hoàn toàn thống nhất được với nhau về khái niệm tộc người Theo Từ điển nhân học (Thomas Barfiel 1998): Nhóm tộc người, tộc người là những thuật ngữ được dùng lần đầu tiên trong nhân học dùng để chỉ một dân tộc được xem cùng một xã hội, chia sẻ cùng một nền văn hóa và đặc 17 biệt, cùng một ngôn ngữ - một nền văn hóa và ngôn ngữ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác không thay đổi. Theo giáo trình Dân tộc học đại cương (2002) do Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) định nghĩa: Tộc người là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có ý thức về thành phần tộc người và tên gọi của mình [11; tr.
Giáo trình Nhân học đại cương cho rằng “tộc người là một tập đoàn người ổn định được hình thành trong lịch sử, dựa trên những mối liên hệ chung về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác dân tộc thể hiện bằng một tộc danh chung” [16; tr.2 Các khái niệm liên quan đến chính sách Chính sách Hiện nay, trong các tài liệu khoa học cũng như thực tiễn, thuật ngữ chính sách được dùng với nhiều nghĩa khác nhau. Theo James Anderson: Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hay nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm [13: tr. Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để quản lý một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình [7; tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm chính sách như sau: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thể hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lãnh vực cụ thể 18 nào đó. Bản chất, nội dung và phương pháp của chính sách tùy thuộc vào tính chất, đường lối, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa,…[14]. Chính sách kinh tế - xã hội Chính sách kinh tế - xã hội thường được xét theo hai nghĩa khác nhau: Xét theo nghĩa rộng: Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể của quan điểm tư tưởng phát triển, những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước. Chính sách theo quan niệm nghĩa này chính là đường lối phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Xét theo nghĩa hẹp: Chính sách kinh tế - xã hội (chính sách công) là quyết sách của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chín muồi đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, thông qua hoạt động thực thi của các ngành các cấp có liên quan trong bộ máy Nhà nước [7; tr. Chính sách là phương thức hành động của Nhà nước để tác động tới kết quả của các sự kiện kinh tế - xã hội, bao gồm một tập hợp mục tiêu của Nhà nước và các phương pháp được lựa chọn để theo đuổi các mục tiêu đó [30; tr. Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các biện pháp và các thủ thuật mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt đến các mục tiêu trong số những mục tiêu chiến lược chung của đất nước [20; tr. Tóm lại: Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể 19 kinh tế - xã hội nhằm giải quyết các vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước.
Chính sách dân tộc Chính sách dân tộc ở nước ta là toàn bộ những chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước tác động vào tất cả các lĩnh vực đời sống của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc và có thể đối với từng dân tộc riêng biệt, nhằm thay đổi tình trạng lạc hậu, biệt lập, phân biệt, bất bình đẳng giữa các dân tộc, hướng tới sự đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau cùng phát triển. Các chính sách chủ yếu của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và với các vùng dân tộc gồm: - Chính sách về phát triển kinh tế: gồm nhóm các chính sách về sở hữu, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển khoa học công nghệ và phát triển kinh tế hàng hóa,… - Chính sách phát triển văn hóa ở vùng dân tộc nhằm giữ gìn, phát triển những yếu tố về truyền thống, ngôn ngữ, chữ viết, những yếu tố cơ bản, đặc trưng của từng dân tộc.