Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp đảm bảo thực hành quyền công tố đúng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái quát chung về thực hành quyền công tố và giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm, phạm vi, nội dung thực hành quyền công tố 1. Khái niệm thực hành quyền công tố Cụm từ “Quyền công tố” và “Thực hành quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 138 Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng của VKSND, được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1981. Kể từ đó, hai cụm từ này tiếp tục được ghi nhận tại Điều 137 Hiến pháp 1992 và các đạo luật liên quan như Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, 2003, 2015; Luật tổ chức VKSND năm 1981, 1992, 2002, 2014; cùng với đó là các Nghị quyết của Đảng như Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chi n lược cải cách tư pháp đ n năm 2020” đã xác định rõ: Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (…), tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra [4.
Quyền công tố cũng như thực hành quyền công tố ở Việt Nam là những vấn đề rất quan trọng xét cả góc độ lý luận lẫn thực tiễn, bởi nó không chỉ liên quan đến chức năng của VKS mà còn liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, luôn gắn chặt nhau, không thể tách rời. Vì vậy, để hiểu được khái niệm thực hành quyền công tố, cần phải tìm hiểu về quyền công tố. Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố. Nhưng khái quát lại thì có một số quan điểm sau: 7 Có quan điểm đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND, rằng: tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là thực hành quyền công tố; công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [24, tr.
Theo một quan điểm khác thì quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hành quyền công tố) [27, tr. Có quan điểm cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật [34, tr. Và theo một quan điểm khác thì quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu TNHS và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội. Nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các VAHS và thi hành án hình sự.
Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định hành vi, người phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội, áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội. Phân tích các quan điểm trên đây, mặt dù đều có điểm hợp lý nhưng vẫn còn những nội dung không chuẩn xác thể hiện ở chỗ hoặc đồng nhất hai chức năng của Viện kiểm sát là công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự hoặc quá mở rộng nội dung và phạm vi của quyền công tố, hoặc có sự nhầm lẫn giữa hoạt động buộc tội và hoạt động bào chữa trong tố tụng hình sự. Xuất phát từ lịch sử Nhà nước và pháp luật, có thể thấy rằng cốt lõi của TTHS là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phát hiện tội 8 phạm và xử lý người phạm tội. Trong hoạt động TTHS, chúng ta thấy luôn luôn tồn tại ba chức năng cơ bản đó là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử.
Buộc tội là một chức năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể và thực chất đó chính là hoạt động truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Người buộc tội (cơ quan thực hiện chức năng buộc tội) có quyền đưa ra lời cáo buộc đối với những cá nhân cụ thể và có nhiệm vụ phải đưa ra những bằng chứng để chứng minh cho sự cáo buộc đó. Vì vậy, có thể đưa ra khái niệm quyền công tố như sau: quyền công tố là quyền thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là VKS) nhằm phát hiện tội phạm, truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa. Để quyền công tố đi vào cuộc sống, phải có hoạt động được tiến hành bởi chủ thể có quyền năng nhất định.
Chủ thể đó, như đã nhấn mạnh, là Viện kiểm sát nhân dân. Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được gọi là hoạt động thực hành quyền công tố. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Mục đích của thực hành quyền công tố là đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội hay bỏ lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bắt tạm giữ, tạm giam, hạn chế quyền con người, quyền công dân trái quy định của pháp luật.
Phạm vi thực hành quyền công tố Mục đích của tố tụng hình sự đòi hỏi mọi tội phạm xảy ra đều phải 9 được phát hiện và xử lý theo pháp luật. Do đó, về mặt nguyên tắc, có tội phạm xảy ra là thì quyền công tố phải được phát động để chứng minh tội phạm, truy tố kẻ phạm tội ra tòa xét xử. Mà thực hành quyền công tố là một trong những biện pháp pháp lý để thực hiện quyền công tố. Vì vậy, các hoạt động nhằm thu thập tài liệu, tin tức về tội phạm xảy ra như: tiếp nhận, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm; tiến hành một số hoạt động điều tra trước khi khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người làm chứng, lấy lời khai người bị tạm giữ; khởi tố vụ án, bị can; ban hành Cáo trạng, các hoạt động buộc tội tại phiên tòa…là một trong những nội dung thực hành quyền công tố.
Tuy nhiên, không phải mọi vụ án đều được đưa ra xét xử trước Tòa án nên phạm vi thực hành quyền công tố có thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn như khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án, bị can. Điều đó có nghĩa là, khi quyền công tố bị triệt tiêu thì không còn việc thực hành quyền công tố. Như vậy, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS. Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt đầu từ khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án và kết thúc khi Bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nội dung thực hành quyền công tố Theo quy định tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014, nội dung thực hành quyền công tố là toàn bộ những hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Có nghĩa là, để đưa một người phạm tội ra trước Tòa án xét xử, VKS sẽ sử dụng tất cả các quyền năng tố tụng được pháp luật cho phép; gồm những 10 quyền năng sau đây: Thứ nhất, ở giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.