CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÙ LAO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Thù lao lao động Khi đề cập đến vấn đề thù lao lao động, có nhiều các khái niệm khác nhau ở mỗi quy mô mà vấn đề này đề cập đến như đối với cá nhân, tổ chức hoặc các quốc gia. Ở quy mô doanh nghiệp, theo tác giả Nguyễn Quốc Tuấn trong giáo trình nguồn nhân lực có đề cập: Một tổ chức muốn tồn tại và phát triển phải đảm bảo được việc thỏa mãn các nhu cầu của người lao động.
Tại đó một trong những nhu cầu quan trọng nhất là nhu cầu về tiền, nó cho phép người lao động có thể thực hiện các giao dịch mua bán, tích trữ,… nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Cơ sở để người lao động có thể nhận những khoản tiền công nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân đó là việc trao đổi sức lao động mà tổ chức mong muốn để tổ chức có thể đạt được mục đích cuối cùng, từ đây tổ chức sẽ trả công dưới các hình thức khác nhau cho người lao động. Tập hợp các khoản chi trả dưới hình thức như tiền, hàng hóa, dịch vụ,… mà doanh nghiệp trả cho người lao động được gọi là thù lao lao động.[14] Đối với mỗi cá nhân trong Giáo trình quản trị nguồn nhân lực của Lê Thanh Hà có đề cập rằng thù lao lao động là toàn bộ những khoản thu nhập mà người lao động nhận được từ phía người sử dụng lao động thông qua hoạt động bán sức lao động của bản thân.[3] Theo Đỗ Thị Tươi (2020) có đề cập khái niệm này một cách chi tiết hơn đó là thù lao lao động là tất cả những lợi ích mà người lao động nhận được thông qua việc trao đổi sức lao động của bản thân cho doanh nghiệp, những khoản này gồm tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi và các yếu tố phi tài chính khác.[15] 15 Từ đây ta có thể tổng kết thù lao lao động là những giá trị mà người lao động nhận được thông qua hoạt động trao đổi sức lao động cho tổ chức, doanh nghiệp. Các giá trị này thể hiện thông qua tiền lương, thưởng, phúc lợi cũng như các yếu tố phi tài chính khác.
Đối với mỗi cá nhân hoặc doanh nghiệp thì thù lao lao động luôn chiếm một vai trò quan trọng. Nó giúp cá nhân hoặc tổ chức đạt được các mục đích khác nhau. Đối với cá nhân, thù lao lao động có tác dụng bù đắp và tái tạo sức lao động sau khoảng thời gian bán sức lao động cho doanh nghiệp. Thù lao lao động còn được dùng để thỏa mãn các nhu cầu của con người từ những nhu cầu cơ bản cho đến các nhu cầu cao hơn… Người lao động chỉ có thể làm việc hết công suất nếu mức thù lao lao động là phù hợp với công sức bỏ ra.
Từ đây có thể thấy muốn người lao động hoạt động với năng suất cao nhất thì doanh nghiệp phải thiết kế được thù lao phù hợp với cách thức hoạt động cũng như tạo được động lực. Thù lao lao động là một công cụ nhằm quản trị nhân sự hiệu quả, thông qua thù lao hợp lý, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu suất lao động tổng thể. Ở phương diện ngược lại nếu thù lao lao động của doanh nghiệp không phù hợp thì người lao động có thể không còn gắn bó với doanh nghiệp cũng như giảm động lực lao động, hiệu suất lao động. Do đó thù lao lao động trong doanh nghiệp cần đảm bảo được các yêu cầu như: - Hệ thống thù lao lao động phải thu hút được người lao động phù hợp thu hút được lao động giỏi.
- Hệ thống thù lao lao động phải xây dựng trên cơ sở pháp luật: Cần tuân thủ các quy định về giờ làm, lương tối thiểu, thưởng, nghỉ có lương, các khoản bảo hiểm,… 16 - Hệ thống thù lao phải tạo động lực cho người lao động: Ngoài việc tạo ra các chế độ nhằm thúc đẩy động lực như các khoản thưởng, phụ cấp thì thù lao lao động cũng phải thỏa mãn các yếu tố tương lai cho người lao động cũng như doanh nghiệp thông qua các cơ chế tăng lương thưởng, phân bậc,…. Cơ cấu của thù lao lao động Khi đề cập đến vấn đề cơ cấu của thù lao lao động thì có một số trường phái như: “Thù lao tài chính và thù lao phi tài chính”, “Thù lao trực tiếp, thù lao gián tiếp”,”Thù lao cơ bản, khuyến khích, phúc lợi”,…. Trong nghiên cứu này, đề tài tiếp cận theo 2 dạng thù lao là thù lao tài chính và thù lao phi tài chính (Sơ đồ 1.1 Cơ cấu thù lao lao động Thù lao lao động Thù lao phì tài Thù lao tài chính chính Thù lao cơ bản, Bản chất công tiền lương việc Các khuyến Môi trường làm khích tài chính việc Phúc lợi tài chính (Tổng hợp lý thuyết và sơ đồ hóa) 17 Theo cách tiếp cận này thì thù lao tài chính là các lợi ích mà người lao động đổi được thông qua việc trao đổi sức lao động với doanh nghiệp dưới dạng tiền, còn đối với thù lao phi tài chính thì đây là các lợi ích nhận được thông qua các yếu tố phi tài chính như mức độ hấp dẫn của công việc, môi trường làm việc, văn hóa doanh nghiệp, mức đổ thách thức, khả năng phát triển trong dài hạn đối với doanh nghiệp. Một cách cụ thể hơn thì thù lao tài chính là các giá trị vật chất mà người lao động nhận được khi làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức và thường được cụ thể hóa dưới dạng tiền.
Ngoài ra một yếu tố khác của thù lao tài chính đó là việc doanh nghiệp chi trả các khoản tiền phúc lợi cho doanh nghiệp như: bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ, trợ cấp xã hội, các khoản phụ cấp vì hoàn cảnh lao động đặc biệt,… Còn thù lao phi tài chính là các giá trị phi vật chất không thể quy dưới dạng tiền mà người lao động nhận được từ doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp muốn có một cơ chế thù lao hấp dẫn thì không thể chỉ quan tâm đến thù lao tài chính mà còn phải quan tâm đến các vấn đề phi tài chính như: bản thân công việc, môi trường làm việc, thời giờ linh hoạt, cơ hội được phát triển, thăng tiến,. Công việc có hấp dẫn không, có thách đố đòi hỏi sức phấn đấu không, nhân viên có được giao trách nhiệm không, có cơ hội được cấp trên nhận biết được thành tích của mình hay không, họ có cảm giác vui khi hoàn thành công việc hay không và họ có cơ hội thăng tiến không. Nội dung thù lao tài chính trong doanh nghiệp Thù lao là một yếu tố quan trọng trong việc thiết lập và duy trì một hệ thống gắn kết nhân viên hiệu quả trong một doanh nghiệp.
Nó liên quan đến việc cung cấp các ưu đãi phù hợp cho người lao động vì sự đóng góp của họ cho tổ chức. Thù lao tài chính là một hình thức thanh toán hoặc phần thưởng do người sử dụng lao động trao cho người lao động để đổi lấy công việc đã 18 hoàn thành, thường là trong khuôn khổ hợp đồng hoặc thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Mục tiêu của thù lao là cung cấp các ưu đãi tài chính khuyến khích nhân viên làm việc chăm chỉ và đóng góp nỗ lực tốt nhất của họ để đạt được các mục tiêu và mục tiêu của tổ chức. Nó cũng đóng vai trò là động lực cho nhân viên để họ luôn trung thành và cam kết với tổ chức.
Một hệ thống thù lao được thiết kế tốt sẽ có thể thu hút, giữ chân, thúc đẩy và khen thưởng những cá nhân tài năng, những người sẵn sàng vượt ra ngoài những gì họ mong đợi để giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức. Tuy thù lao tài chính có thể tiếp cận dưới nhiều dạng nhưng trong phạm vi nghiên cứu, thù lao tài chính sẽ được tiếp cận từ các góc độ như: Thù lao cơ bản, các khuyến khích tài chính, các phúc lợi lao động. Tiền lương Thù lao lao động nói chung và tiền lương nói riêng là công cụ nhằm quản trị nhân lực trong doanh nghiệp, tuy nhiên khác với ý nghĩa rộng của thù lao thì tiền lương có ý nghĩa là mức lương tối thiểu nhằm thỏa mãn công sức mà người lao động đã bỏ ra để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức đồng thời phải đủ để đáp ứng một số nhu cầu cao hơn của người lao động trong doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp thì ngoài việc đảm bảo hai yếu tố trên thì việc xây dựng hệ thống lương còn phải đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường lao động,… Với một hệ thống lương phù hợp thì doanh nghiệp có thể thúc đẩy hiệu quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, ngược lại nếu yếu tố tiền lương không được đảm bảo thì nó sẽ tác động lớn nhất đế hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Nguyên nhân đến từ việc tại đa phần các doanh nghiệp thì tiền liên có tác động lớn nhất đến quyết định làm việc, tuy nhiên tại một số tổ chức hoặc ngành nghề có cơ chế khác thì yếu tố tiền lương sẽ bị giảm tầm quan trọng. Để phát huy được vai trò của tiền lương thì việc xác định quỹ tiền lương, cách thức tính lương,… là vô cùng quan trọng. Với các doanh nghiệp khác nhau 19 thì các thức tính lương cũng khác nhau. Nếu xét theo hình thức trả lương thì hiện có 02 hình thức trả lương cơ bản sau: - Trả lương theo thời gian: Trả lương theo thời gian là hình thức trả lương trên cơ sở là thời gian làm việc của người lao động và mức lương đã định trước trong hợp đồng lao động, vị trí/chức danh mà người lao động đảm nhiệm (Việc trả lương theo thời gian cần doanh nghiệp xây dựng một hệ thống đánh giá các giá trị lao động của chức danh công việc đó cần có).
Hình thức trả lương này được áp dụng phổ biến đối với nhóm người lao động hành chính văn phòng như tài vụ, văn thư, kế toán,…. Ngoài việc đánh giá thuần túy thông qua thời gian làm việc thì hệ thống trả lương theo thời gian thường đi liền với các kết quả thực hiện công việc (KPI), trên cơ sở KPI người sử dụng lao động sẽ ghi nhận kết quả và quy đổi thành một yếu tố trực tiếp trong thành phần lương hoặc quy đổi như một thành phần trong khoản thưởng hàng tháng đối với người lao động. Tuy nhiên đối với hình thức trả lương theo thời gian thì phần lương cơ bản thường chiếm tỉ trọng lớn, các khoản thêm như KPI,.