CHƯƠNG 1 Trong chương này luận văn trình bày tính cấp thiết của đề tài dẫn đến mục tiêu nghiên cứu. Dựa trên thực tế và có cơ sở lý thuyết cho rằng thanh khoản dồi dào có thể giúp các ngân hàng giảm rủi ro thanh khoản. Tuy nhiên theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, các ngân hàng có thanh khoản cao có xu hướng tự tin quá mức và đầu tư mạo hiểm hơn. Điều này dẫn đến gia tăng tỷ lệ nợ xấu và rủi ro cho ngân hàng, nếu nhân rộng ra là cả hệ thống tài chính.
Từ đó thôi thúc tác giả thực hiện đề tài khám phá mối quan hệ hệ giữa thanh khoản và mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Hiểu được bản chất các rủi ro ngân hàng đến từ đâu có thể gúp các ngân hàng và các cơ quan chính phủ có những chính sách và giải pháp phù hợp. Chương này cũng giới thiệu tổng quan về dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Rủi ro ngân hàng Rủi ro ngân hàng được xem như là sự bất trắc không mong đợi trong hoạt động của các ngân hàng, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được. Trong hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng thì vấn đề rủi ro là không thể tránh khỏi. Vì thế, các nhà quản trị không thể loại bỏ được rủi ro mà chỉ có thể phát hiện kịp thời để có những biện pháp chủ động xử lý. Trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường hiện nay, các nhà quản trị phải biết nhận biết và dự đoán trước các rủi ro để sớm đưa ra các giải pháp phòng ngừa chống đỡ tác hại của nó.
Các ngân hàng thường phải đối mặt với 6 rủi ro cơ bản sau: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối, rủi ro nguồn vốn, rủi ro hoạt động. Do đặc trưng hoạt động của ngân hàng nên rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản là hai rủi ro quan trọng nhất. Rủi ro tín dụng Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM, đem lại lợi nhuận lớn nhất nhưng cũng là loại rủi ro lớn nhất của NHTM. Rủi ro tín dụng được đề cập ở đây là rủi ro trong hoạt động cho vay, cấp tín dụng của NHTM.
Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa NH với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN nêu rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Khái niệm này đã được trao đổi, thảo luận của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách,…trong quá trình ban hành văn bản pháp quy này.
Cụ thể như sau: Rủi ro tín dụng là những khoản tổn thất phát sinh trong trường hợp 8 ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Thanh khoản Ngân hàng và rủi ro thanh khoản Ngân hàng 2. Định nghĩa thanh khoản Ngân hàng Thanh khoản được xem như là một sự dễ dàng/ nhanh chóng một tài sản này được chuyển đổi thành một tài sản khác thông qua giao dịch. Do đó thanh khoản có thể cũng được diễn giải như sự dễ dàng/ nhanh chóng chuyển đổi một tài sản thành tiền trong giao dịch.
Tài sản thanh khoản nhìn chung được sử dụng để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn. Nói một cách khác, một công ty có thanh khoản vượt mức có thể cải thiện năng lực đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn, nhưng cũng cho thấy năng lực quản lý kém trong việc thực hiện chiến dịch đầu tư để đem lại lợi ích cho nhà đầu tư (Myers và Rajan, 1998). Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không có khả năng cung ứng kịp thời và đầy đủ một lượng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền cũng như để giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết, hoặc có thể cung ứng kịp thời nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp thời các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Thanh khoản tại ngân hàng là một thước đo khả năng sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu về tiền mặt của khách hàng. Thanh khoản có thể đến từ nắm giữ tiền mặt trực tiếp trong thanh toán hay gửi tại ngân hàng trung ương. Phổ biến hơn nó đến từ nắm giữ các chứng khoán mà có thể nhanh chóng bán ra với khoản lỗ tối thiểu. Đây là những chứng khoán có mức tin cậy cao, bao gồm trái phiếu chính phủ ngắn hạn.
Cụ thể nếu thời gian đáo hạn ngắn đủ để ngân hàng có thể đợi cho chúng quay về mức vốn khởi đầu tại ngày đáo hạn. Trong ngắn hạn, các chứng khoán rất an toàn cũng như thường được giao dịch trong các thị trường thanh khoản, nghĩa là một khối lượng lớn có thể được bán ra mà không làm giá biến động nhiều và với chi phí giao dịch thấp. 9 Tuy nhiên, tình trạng thanh khoản của một ngân hàng, cụ thể trong một cuộc khủng hoảng, sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi dự trữ tiền mặt và chứng khoán thanh khoản cao. Ngày đáo hạn của các tài sản thanh khoản ngắn hơn cũng trở nên quan trọng vì một số trong chúng có thể đáo hạn trước khi cuộc khủng hoảng tiền mặt đi qua, do đó tạo ra rủi ro thanh khoản.
Hoặc chúng có thể được bán, thậm chí điều này sẽ tạo ra một tổn thất đáng kể trong một tình huống bán tháo khi ngân hàng cần phải thực hiện thanh lý bất kể mức giá nào. Một mặt khác, ngân hàng thường có những cam kết thanh toán tiền mặt, đặc biệt thông qua các khoản tín dụng dành cho các khách hàng bán lẻ và doanh nghiệp. Dĩ nhiên, cam kết lớn nhất trong hầu hết các trường hợp là yêu cầu hoàn lại tiền gửi thanh toán tại bất kỳ thời điểm nào mà người gửi tiền mong muốn nếu chúng không đáp ứng đủ mức an toàn. Cuộc khủng hoảng tài chính thể hiện dưới dạng cực đoan gây ra những tổn thất mà nền kinh tế phải gánh chịu khi mà tín dụng đi xuống.
Nguồn vốn được xem là bộ đệm an toàn quan trọng nhất, vì nó cung cấp nguồn lực để khôi phục các tổn thất đáng kể và cũng giúp ngân hàng có thể giải quyết vấn đề niềm tin của công chúng về sự an toàn của ngân hàng. Tuy nhiên, nguyên nhân chính của sự sụp đổ ngân hàng thường là vấn đề thanh khoản khiến cho nó không thể tồn tại trong một cuộc “bank run” hoặc không có khả năng tiếp cận thị trường nợ để huy động vốn mới. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra đối với một ngân hàng có giá trị thị trường của tài sản đủ để đáp ứng các cam kết của nó, nhưng cũng có thể đi đến phá sản nếu các tài sản này thiếu tính thanh khoản và các nghĩa vụ nợ thì ngắn hạn. Rủi ro thanh khoản của Ngân hàng Nguyễn Ngọc Yến (2016) nhận định: “Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng, bên cạnh những loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động… Xuất phát từ tính liên kết hệ thống một cách chặt chẽ, một ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản sẽ ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các ngân hàng khác, và rộng hơn là đe dọa đến sự an toàn trong hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Do đó, quản trị 10 rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại luôn là vấn đề được quan tâm đặc biệt bởi các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản lý, giám sát. Những quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng và biện pháp hỗ trợ, bảo đảm thực thi những quy định này đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật từ khá sớm và ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam”. Ngân hàng thương mại trong vai trò là một trung gian tài chính là người tạo thanh khoản cho thị trường, cũng đối mặt với rủi ro thanh khoản. Khi đó rủi ro thanh khoản được định nghĩa như khả năng các ngân hàng không thể đáp ứng được tất cả các nghĩa vụ nợ ngắn hạn.
Nguồn gốc chính của rủi ro thanh khoản đến từ các sản phẩm ngân hàng yếu kém, được chỉ ra bởi thời gian phân bổ vốn huy động ngắn hơn so với thời gian cho vay mượn. Thời gian ký quỹ ngắn đồng nghĩa với việc quỹ có thể bị rút ra bởi người gửi tiền tại bất cứ lúc nào cũng như khi chúng đến hạn, trong khi vốn huy động được thì vẫn còn ở trong các hình thức tín dụng đang lưu thông trên thị trường (Diamond và Rajan, 2001). Nếu việc rút tiền xảy ra ở một quy mô lớn còn gọi là sự kiện rút tiền hàng loạt (bank run), ngân hàng sẽ đối mặt các vấn đề thanh khoản. Nếu vấn đề thanh khoản không thể giải quyết thì ngân hàng sẽ mất thanh khoản và không còn khả năng đáp ứng việc rút tiền hàng loạt từ công chúng.
Điều đó gây ra sự mất tin tưởng của công chúng vào hệ thống ngân hàng và một bank run có thể gây ra hiện tượng lây nhiễm, hay nói cách khác là một bank run ở ngân hàng này có thể dẫn đến một bank run ở ngân hàng khác vì sự mất lòng tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng. Nếu hiệu ứng lây nhiễm này gây ra một bank run lên tất cả các ngân hàng đang tồn tại, thì khủng hoảng tài chính sẽ có thể xảy ra.