chương 1. 30 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015 -2017 .1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.1 Quá trình hình thành và phát triển .2 Vài nét sơ lược về hoạt động của BIDV .3 Nhân sự, cơ cấu tổ chức & bộ máy quản lý .4 Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV những năm gần đây .1 Tình hình kinh doanh. Tình hình tài chính .2 Thực trạng năng lực tài chính của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 2013-2017 theo khung an toàn CAMELS .1 Về khả năng an toàn vốn .2 Về chất lượng tài sản .3 Về khả năng quản lý .4 Về khả năng sinh lời.5 Khả năng thanh khoản .6 Nhạy cảm với rủi ro thị trường .3 Phân tích SWOT về năng lực tài chính của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam & so sánh với đối thủ cạnh tranh .1 Phân tích SWOT.2 Vị thế của BIDV so với đối thủ cạnh tranh……………………………………. 63 Kết luận chương 2………………………………………………………………….…65 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.1 Mục tiêu, định hướng và kế hoạch nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thươngmại Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng đến năm 2020 .2 Định hướng và giải pháp cơ cấu lại các NHTMNN, xử lý nợ xấu .3 Mục tiêu và định hướng các giải pháp thực hiện nâng cao năng lực của BIDV.
Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của BIDV đến năm 2020. Giải pháp nâng cao mức an toàn vốn. Giải pháp nâng cao chất lượng tài sản. Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý.
Giải pháp nâng cao khả năng sinh lời. Giải pháp nâng cao khả năng thanh khoản. Giải pháp nâng cao khả năng nhạy cảm với rủi ro thị trường. Một số kiến nghị để thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực tài chính của BIDV giai đoạn 2018 - 2020.
Kiến nghị với Chính phủ .2 Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước. 80 Kết luận chương 3. 83 TÀI LIỆU KHAM KHẢO PHỤ LỤC 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về tài chính của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Theo Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) số 47/2010/QH12 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tóm lại: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác. NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.2 Tài chính của ngân hàng thƣơng mại Tài chính là phạm trù kinh tế có tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế.
Theo từ điển kinh tế học hiện đại, tài chính biểu thị vốn dưới các dạng tiền tệ, nghĩa là ở dạng các khoản có thể vay mượn hay đóng góp vốn thông qua thị trường tài chính hay các định chế tài chính. Nói cách khác tài chính phản ánh hoạt động mà các cá nhân, công ty và tổ chức tạo lập tiền tệ và sử dụng nguồn tiền tệ để đáp ứng những nhu cầu phát triển khác nhau. (Trần Thành Quảng, 2005) 2 Tài chính là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội, nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội. (Trần Thành Quảng, 2005) Như vậy, tài chính NHTM là sự vận động của các luồng tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Năng lực tài chính của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Quan niệm về năng lực tài chính của ngân hàng thƣơng mại Năng lực tài chính của NHTM chính là khả năng tài chính để ngân hàng thực hiện và phát triển các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả.
(Hà Thị Thu Phương, 2018) Năng lực tài chính của ngân hàng không chỉ là nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh. Năng lực tài chính không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện sức mạnh tài chính tiềm năng, triển vọng và xu hướng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó. (Hà Thị Thu Phương, 2018) Năng lực tài chính của một NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng, là năng lực cốt lõi của một ngân hàng. Một NHTM có năng lực tài chính tốt phải là NHTM luôn duy trì được hoạt động bình thường và phát triển một cách ổn định, bền vững trong mọi điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và trên thế giới; hay là khả năng sống sót của ngân hàng trước các cú sốc của kinh tế vĩ mô hay sức chịu đựng trước những biến động của nền kinh tế.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu của NHTM là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ ngân hàng, của các thành viên trong đối tác liên doanh hoặc các cổ, kinh phí quản lý do các đơn vị trực thuộc nộp lên… 3 Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn của chủ sở hữu ban đầu và vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động.
Vốn chủ sở hữu ban đầu của các NHTM chính là vốn do ngân sách Nhà nước cấp khi mới thành lập (đối với các NHTMNN), do cổ đông góp thông qua việc mua cổ phần hoặc cổ phiếu (đối với các NHTMCP) bao gồm cổ phần thường và các cổ phần ưu đãi. Mức vốn này phải không thấp hơn mức vốn pháp định. Vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động (Vốn chủ sở hữu bổ sung) do phát hành thêm cổ phiếu hoặc do ngân sách Nhà nước cấp bổ sung trong quá trình hoạt động; do chuyển một phần lợi nhuận tích lũy, các quỹ dự trữ, quỹ đầu tư, bổ sung vốn điều lệ, phát hành giấy nợ dài hạn… Trên bảng cân đối của NHTM, vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản mục cơ bản: Vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ. Trong đó, vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Trong trường hợp ngân hàng phá sản hoặc ngừng hoạt động thì nghĩa vụ thanh toán nợ sẽ theo thứ tự: các khoản tiền gửi của khách hàng, nghĩa vụ với Nhà nước và người lao động, các khoản vay và cuối cùng mới đến phần các chủ sở hữu. Nếu quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn thì các chủ nợ của ngân hàng (người gửi tiền và người cho vay) sẽ an tâm về ngân hàng (với các điều kiện khác là như nhau). Do đó, vốn của chủ sở hữu được coi là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng. Đồng thời, vốn chủ sở hữu còn thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng lưới kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của NHTM: Khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng tín dụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ. Phần lớn vốn chủ sở hữu là không sinh lời trực tiếp, chúng được ưu tiên tài trợ cho xây dựng trụ sở, phương tiện làm việc, đầu tư công nghệ. Phần còn lại của vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu lớn cho phép ngân hàng thành lập các công ty con và tham gia hoạt động đầu tư, liên doanh liên kết với các đối tác chiến lược, hùn vốn vào các 4 công ty và có thể thôn tính các ngân hàng khác theo qui định không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ.
Tiêu chuẩn quốc tế quy định ngân hàng không được cho vay quá 15% vốn và thặng dư vốn đối với một khách hàng. Đối với các khoản vay được đảm bảo an toàn thì giới hạn này là 25%. Với mức vốn lớn đồng nghĩa với việc ngân hàng được phép cho vay những dự án lớn, từ đó làm tăng qui mô tín dụng và tăng qui mô tổng tài sản. Vốn chủ sở hữu tác động đến khả năng huy động vốn thông qua chỉ tiêu Hệ số đòn bẩy.
Và vốn chủ sở hữu còn tác động đến khả năng mở rộng mạng lưới. Theo thông tư 21/2013/TT-NHNN, số lượng chi nhánh của một Ngân hàng thương mại được thành lập phải đảm bảo:300 tỷ đồng x N1 + 50 tỷ đồng x N2 < C Trong đó: C là giá trị thực của vốn điều lệ của NHTM đến thời điểm đề nghị (tính bằng tỷ Việt Nam đồng). N1 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực nội thành thành phố Hà Nội và khu vực nội thành thành phố Hồ Chí Minh. N2 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực ngoại thành thành phố Hà Nội, khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh; và các tỉnh, thành phố khác trực thuộc Trung ương.
Hệ thống sở giao dịch, chi nhánh của NHTM là kênh trực tiếp cung cấp các dịch vụ ngân hàng đến khách hàng.