phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chƣơng. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH PHÚC YÊN CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH PHÚC YÊN 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 HỘ KINH DOANH VÀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Những vấn đề chung về hộ kinh doanh 1.1 Khái niệm Tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh đƣợc định nghĩa là: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm là các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Hộ kinh doanh không phải là một loại hình doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp cũng không có định nghĩa cụ thể về hộ kinh doanh.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, mới nhất tại khoản 1 Điều 79 Nghị định của Chính phủ số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 về đăng ký doanh nghiệp, khái niệm hộ kinh doanh có nội dung nhƣ sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.1 Đặc điểm pháp lý Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam, hoặc một nhóm ngƣời, hoặc một hộ gia đình làm chủ. Đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, cá nhân đó có toàn quyền quyết định về mọi hoạt động kinh doanh 12 của hộ (nhƣ chủ doanh nghiệp tƣ nhân đối với doanh nghiệp tƣ nhân).
Đối với hộ kinh doanh do một nhóm ngƣời hoặc một hộ gia đình làm chủ, mọi hoạt động kinh doanh của hộ do các thành viên trong nhóm hoặc trong hộ quyết định (nhƣ các thành viên trong công ty quyết định về mọi hoạt động của công ty). Nhóm ngƣời hoặc hộ gia đình cử một ngƣời đủ điều kiện là đại diện cho nhóm hoặc cho hộ để tham gia giao dịch với bên ngoài. Hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh mang tính nghề nghiệp thƣờng xuyên, nghĩa là hộ kinh doanh hoạt động một cách chuyên nghiệp và thu nhập chính của họ phát sinh từ hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp mà do cá nhân, nhóm ngƣời, hộ gia đình nhân danh mình tham gia vào hoạt động kinh doanh.
Mặc dù là chủ thể kinh doanh chuyên nghiệp nhƣng hộ kinh doanh không có tƣ cách pháp nhân, không có con dấu, không đƣợc mở chi nhánh, văn phòng đại diện, không đƣợc thực hiện các quyền mà doanh nghiệp đang có nhƣ hoạt động xuất nhập khẩu hay áp dụng Luật Phá sản khi kinh doanh thua lỗ. Khi tham gia giao dịch, cá nhân hoặc đại diện nhóm ngƣời hay đại diện hộ gia đình nhân danh mình mà không nhân danh hộ kinh doanh để thực hiện hoạt động kinh doanh. Cá nhân, nhóm ngƣời hoặc các thành viên trong hộ chịu trách nhiệm đến cùng về mọi khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh (trách nhiệm vô hạn). Hay nói cách khác, khi phát sinh các khoản nợ, cá nhân hoặc các thành viên phải chịu trách nhiệm trả hết nợ, không phụ thuộc vào số tài sản kinh doanh hay dân sự mà họ đang có; không phụ thuộc vào việc họ đang thực hiện hay đã chấm dứt thực hiện hoạt động kinh doanh.2 Đặc điểm về mặt kinh tế Hộ kinh doanh có tính chất đa dạng, manh mún và thời vụ: tính đa dạng ở đây bao gồm đa dạng về nghành nghề, mô hình, quy mô kinh doanh, đa 13 dạng sản phẩm dịch vụ; tính manh mún đó là quy mô nhỏ lẻ, chƣa bài bản; tính thời vụ phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, chu kỳ kinh doanh ngắn Trình độ tổ chức lao động sản xuất ở mức thấp; nhìn chung mô hình, phƣơng thức quản lý dinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, “tố chất”, “cha truyền con nối”, ít đƣợc đào tạo bài bản Hộ kinh doanh có tính chất đặc thù nghề nghiệp, chịu ảnh hƣởng văn hóa kinh doanh làng nghề, vùng miền tùy vào lĩnh vực kinh doanh, nghành nghề kinh doanh mà chủ hộ kinh doanh sẽ có những văn hóa kinh doanh riêng.3 Vai trò của hộ kinh doanh đối với nền kinh tế và ngân hàng thƣơng mại Đối với nền kinh tế Hộ kinh doanh thuộc thành phần kinh tế hộ gia đình là bộ phận của kinh tế tƣ nhân là một lực lƣợng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Thời gian qua, HKD đã có những đóng góp tích cực trong nền kinh tế, nổi bật nhƣ: Thứ nh t, khu vực HKD có đóng góp lớn trong tạo việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội. Bởi vì đây là khu vực kinh tế không đòi hỏi quá khắt khe về bằng cấp, chứng chỉ nghề nghiệp, mặt khác có thể tận dụng lao động thời vụ, lao động dôi dƣ, lao động dịch chuyển ở các khu vực khác của nền kinh tế nên khu vực kinh tế hộ kinh doanh luôn là địa chỉ hấp dẫn thu hút đƣợc số lƣợng lớn ngƣời lao động. Không chỉ tạo việc làm, tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo trực tiếp cho chính chủ sở hữu, ngƣời quản lý khu vực này còn gián tiếp cải thiện cuộc sống cho những ngƣời có thu nhập thấp, ngƣời nghèo ở thành thị và nông thôn. Nhờ có HKD, ngƣời nghèo mới đƣợc tiếp cận các hàng hoá, dịch vụ nhanh hơn với giá cả bình dân.
Hơn nữa, khu vực này còn là nơi tiếp nhận ngƣời lao động không đủ kỹ năng làm việc cho khu vực DN, khu vực hành chính sự nghiệp chuyển sang. Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ HKD đang hoạt động tại 14 các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển các ngành nghề truyền thống - một phần của văn hoá dân tộc Việt Nam. Thứ hai, HKD là một trong những động lực thúc đẩy tinh thần kinh doanh và phát triển kinh tế thị trƣờng. Với rào cản tham gia thị trƣờng thấp hơn đáng kể so với rào cản của khu vực DN, HKD có thể là bƣớc trung gian tốt hơn để các cá thể khởi nghiệp vững chắc, đặc biệt là ở những ngành, lĩnh vực kinh doanh truyền thống.
Thực tế cho thấy, HKD là mô hình khởi sự kinh doanh phổ biến ở Việt Nam nhờ vào sự đơn giản về thủ tục gia nhập thị trƣờng, ít ràng buộc về tổ chức quản lý, phù hợp với nhiều thành phần, lứa tuổi, vùng miền và không quá đòi hỏi cao về năng lực tài chính, chi phí vốn thấp. Đối với ngân hàng thƣơng mại Hộ kinh doanh là các khách hàng mang lại nhiều nguồn thu nhập cho ngân hàng, bởi vì hộ kinh doanh bên cạnh việc vay vốn sẽ sử dụng các sản phẩm dịch vụ khác nhƣ chuyển tiền, thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, mua bảo hiểm…. Xu hƣớng hộ kinh doanh sẽ không sử dụng đơn điệu mà sẽ sử dụng trọn gói các dịch vụ ngân hàng. Hộ kinh doanh là lực lƣợng khách hàng mang lại dƣ nợ tín dụng ổn định và tăng trƣởng, trái ngƣợc với lực lƣợng khách hàng vay mục đích tiêu dùng thƣờng có xu hƣớng dƣ nợ tín dụng giảm dần theo thời gian.
Các hộ kinh doanh sử dụng nguồn vốn ngân hàng để quay vòng vốn lƣu động bởi vậy nguồn thu và dòng tiền sẽ ổn định, tính rủi ro tín dụng giảm thiểu so với các khách hàng khác, nên đây cũng là nguồn khách hàng ít rủi ro khi ngân hàng cấp tín dụng so với các đối tƣợng khách hàng cá nhân khác Mặt khác theo chính sách thúc đẩy kinh tế tƣ nhân của Đảng và nhà nƣớc ta theo thời gian các hộ kinh doanh ngày càng tăng về số lƣợng và chất lƣợng, đáp ứng nhu cầu mở rộng khách hàng của ngân hàng thì đây sẽ là nguồn khách hàng thƣờng xuyên, dồi dào và tiềm năng của ngân hàng, 15 1.3 Vốn của hộ kinh doanh Vốn của hộ kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản của hộ kinh doanh tham gia vào quá trình kinh doanh. Bởi vì bất kỳ hộ kinh doanh nào khi tham gia sản xuất, kinh doanh để phải bỏ các chi phí đầu vào nhƣ nguyên liệu, hàng hóa, trả tiền thuê lao động, chi phí thuê mặt bằng địa điểm kinh doanh, chi phí mua máy móc thiết bị, chi phí điện, nƣớc …vv Dựa vào các tiêu chí khác nhau có thể phân loại vốn của hộ kinh doanh thành các loại vốn nhƣ sau: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn có thể phân loại vốn của hộ kinh doanh thành: vốn cố định và vốn lƣu động trong đó vốn cố định là vốn để phục vụ mua các tài sản cố định của hộ kinh doanh nhƣ máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất …vv…, vốn lƣu động là vốn để phục vụ mua nguyên vật liệu, hàng hóa đầu vào. Biểu hiện bên ngoài của tài sản là giá trị bằng tiền tức là vốn của hộ kinh doanh biểu hiện bên trong hay nguồn gốc hình thành lên tài sản của hộ kinh doanh chính là nguồn vốn của hộ kinh doanh bao gồm: vốn tự có và vốn huy động từ bên ngoài trong đó : vốn tự có bao gồm: vốn của cá nhân, vốn góp của từng thành viên trong hộ kinh doanh. Vốn tự có là nguồn vốn ban đầu khi hộ kinh doanh khởi nghiệp và tồn tại cùng với quá trình phát triển của hộ kinh doanh, đây là nguồn vốn mang lâu dài, tấm đỡ rủi ro cho hộ kinh doanh.
Bên cạnh nguồn vốn tự có thì có nguồn vốn rất quan trọng đó là nguồn vốn từ bên ngoài. Nguồn vốn này rất quan trọng là động lực cho hộ kinh doanh phát triển.