CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING VÀ MARKETING DỊCH VỤ 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ MARKETING 1.1 Khái niệm về Marketing Rất nhiều người ñã nhầm lẫn hay ñồng nhất marketing với việc tiêu thụ và kích thích tiêu thụ. Marketing là thuật ngữ ñặc biệt có nội dung rất rộng nên không thể dịch ra các tiếng khác nhau một cách trọn vẹn và hoàn chỉnh. Hiện nay trong các tác phẩm về marketing trên thế giới có ñến trên 2000 ñịnh nghĩa marketing. Tuy nhiên các ñịnh nghĩa ấy về thực chất không khác nhau về cơ bản.
Và chưa có ñịnh nghĩa nào ñược coi là duy nhất ñúng, bởi lẽ các tác giả của các ñịnh nghĩa về marketing ñều có quan ñiểm của riêng mình. Theo Philip Kotler: “Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ ñó mà các cá nhân và tập thể có ñược những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao ñổi những sản phẩm có giá trị với những người khác” [1]. Có thể nói, Marketing của khái niệm này là dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu; Sản phẩm; Giá trị, chi phí và sự hài lòng; Trao ñổi, giao dịch và các mối quan hệ; Thị trường marketing và những người làm Marketing. Theo Wikipedia, “Marketing là việc nhận dạng ra ñược những gì mà con người và xã hội cần.
Một sản phẩm nếu ñược tạo ra mà không ai có nhu cầu dùng và mua thì sẽ không bán ra ñược, từ ñó sẽ không có lãi. Mà nếu vậy, thì sản xuất sẽ trở thành không sinh lợi. Do ñó, ñịnh nghĩa ngắn nhất mà ta có ñược ñó là nhận dạng ñược nhu cầu một cách có lợi”. [1] Phillip Kotler (2000), Quản trị marketing, NXB Thống kê(Tài liệu dịch), Hà Nội, trang 12 9 Theo một số tác giả trong nước, "marketing là một tiến trình xã hội và quản lý theo ñó các cá nhân và các nhóm có ñược cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra, trao ñổi những sản phẩm có giá trị với những người khác.”[2] Nhìn chung, ñối với khái niệm Marketing chúng ta hiểu rằng ñây là một thuật ngữ chỉ các hoạt ñộng trong tổ chức (bao gồm các tổ chức kinh doanh và tổ chức phi lợi nhuận) bằng việc tạo ra giá trị từ khách hàng, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, xây dựng mô hình sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối và chiến dịch promotion… với mục ñích nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của một hoặc nhiều nhóm khách hàng nhất ñịnh và thu về giá trị lợi ích từ những giá trị ñã ñược tạo ra.2 Khái niệm về Marketing dịch vụ * Dịch vụ: là những hoạt ñộng và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình, không mang tính sở hữu.
Nó có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Hay: dịch vụ là bất kỳ một hoạt ñộng hay lợi ích nào mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và về cơ bản là không hữu hình và không dẫn ñến một sự sở hữu nào (Kotler, 2005). * Marketing dịch vụ: theo Philip Kotler ñã nêu rằng: “ Marketing dịch vụ ñòi hỏi các giải pháp nâng cao chất lượng, năng suất sản phẩm, dịch vụ, tác ñộng nhằm thay ñổi cầu vào việc ñịnh giá cũng như phân phối cổ ñộng ". Còn theo quan ñiểm của Kpippendoki thì : “ ðây là một sự thích ứng có hệ thống và phối hợp chính sách kinh doanh dịch vụ tư nhân và chính phủ với sự thoả mãn tối ưu những nhu cầu của những nhóm khách hàng ñã ñược xác ñịnh và ñạt ñược lợi nhuận xứng ñáng”.[4] [2]Quản trị markting ñịnh hướng giá tri(2011), Nhà XB Lð xã hội, trang 25 [4] TS Lưu Văn Nghiêm (2001), Marketing trong kinh doanh dịch vụ Nhà xuất bản lao ñộng, Hà Nội, trang 45 10 Có nhiều cách ñể hiểu nhưng chúng ta có thể hiểu về Marketing dịch vụ một cách tổng thể như sau: “ Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, ñánh giá và thoả mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác ñộng vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức.
Marketing ñược xem xét trong sự năng ñộng của mối quan hệ qua lại giữa các sản phẩm dịch vụ của công ty và nhu cầu của người tiêu dùng cùng với hoạt ñộng của ñối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội”. Khái niệm Marketing mix (Marketing hỗn hợp) Marketing-mix ñược hiểu là một phối thức ñịnh hướng các biến số marketing có thể kiểm soát ñược mà công ty thương mại sử dụng một cách liên hoàn và ñồng bộ nhằm theo ñuổi một sức bán và lợi nhuận dự kiến trong một thị trường trọng ñiểm xác ñịnh. Marketing–mix bao gồm tất cả những gì mà công ty có thể vân dụng ñể tác ñộng lên nhu cầu về hàng hoá của mình. Có thể hợp nhất rất nhiều khả năng thành 4 nhóm cơ bản: hàng hoá, giá cả, phân phối và xúc tiến thương mại.
Như vậy marketing–mix của công ty ở thời ñiểm t cho một nhãn hiệu mặt hàng k có thể ñược biểu diễn bằng vectơ như sau: Mk mix=(P1, P2, P3, P4)ijpt M mix: Phối thức vectơ của marketing hỗn hợp. P1: Sức cạnh tranh tương ñối của mặt hàng K(giả ñịnh 1,2) P2: Giá bán. P3: Ngân quỹ phân phối, sức bán/kỳ thời gian P4: Ngân quỹ quảng cáo, giao tiếp/ kỳ thời gian. Bốn biến số này tồn tại ñộc lập và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau 11 chúng phải ñược thực hiện một cách ñồng bộ và liên hoàn.
Những chính sách thực hiện các biến số này không phải ñược xác ñịnh biệt lập với nhau. ðể các chính sách ñó có thể ñược phối hợp với nhau và có hiệu quả, cần thiết phải sắp xếp chúng theo một kế hoạch chung duy nhất ñược gọi là marketing hỗn hợp.2 TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG CÁC CHÍNH SÁCH MARKETING DỊCH VỤ: Phân tích môi trường P1: Chính sách sản phẩm Marketing P2: Chính sách giá. Mục tiêu Marketing P3: Chính sách phân phối. P4: Chính sách truyền thông cổ ñộng.
Phân ñoạn và lựa chọn thì P5: Chính sách con người. trường mục tiêu P6: Chính sách quy trình. ðịnh vị sản phẩm trên thị P7: Kiểm tra, giám sát. trường mục tiêu Hình 1.1: Qui trình xây dựng các chính sách marketing dịch vụ 1.1 Phân tích môi trường: Nghiên cứu ñầu tiên về việc rà soát môi trường ñược thực hiện bởi Francis Aguilar.
Các thông tin khác nhau mà các công ty quan tâm ñược Aguilar phân loại thành năm nhóm: thông tin thị trường (tiềm năng của thị trường, sự thay ñổi cấu trúc, ñối thủ cạnh tranh và ngành, ñịnh giá, thương lượng bán hàng, khách hàng); xu hướng sáp nhập (xu hướng liên doanh liên kết); thông tin về kỹ thuật công nghệ (các sản phẩm mới, các quy trình và công nghệ, các vấn ñề về sản phẩm, chi phí, nhượng quyền và bản quyền); các vấn ñề vĩ mô (các ñiều kiện chung liên quan ñến chính trị, nhân khẩu học, 12 các vấn ñề quốc gia, hành ñộng của chính phủ và các chính sách); các thông tin khác (các nhà cung ứng và nguyên vật liệu; các nguồn lực sẵn có). Trong các nhóm này, thông tin thị trường là loại phổ biến nhất và ñược các nhà quản trị quan tâm nhất[2]. Phân tích môi trường marketing ñể phát hiện các cơ hội và ñe dọa ñối với doanh nghiệp. Môi trường marketing gồm: a.
Môi trường vĩ mô: Môi trường vĩ mô trong marketing là những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn hơn, có ảnh hưởng ñến môi trường vi mô, như các yếu tố chính trị-pháp luật, kinh tế, nhân khẩu, văn hóa- xã hội, công nghệ. * Môi trường chính trị – pháp luật: Chính trị: ðất nước ta có một nền chính trị ổn ñịnh, ñây là cơ hội sẽ làm giảm các nguy cơ về khủng bố, ñình công, bãi công.Từ ñó giúp cho các hoạt ñộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tránh ñược rủi ro. ðể có ñược một môi trường kinh doanh lành mạnh thì phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố pháp luật và quản lý nhà nước về kinh tế. Những quyết ñịnh marketing chịu tác ñộng mạnh mẽ của những diễn biến trong môi trường chính trị.
Môi trường này gồm có luật pháp, các cơ quan nhà nước và những nhóm gây sức ép có ảnh hưởng và hạn chế các tổ chức và cá nhân khác nhau trong xã hội. Những người làm marketing phải nắm vững những luật lệ trong môi trường chính trị ñể cạnh tranh một cách hợp pháp. Pháp luật: Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng chịu sự tác ñộng mạnh mẽ của pháp luật, ñặc biệt doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng. Các hoạt ñộng của ngân hàng ñược ñiều chỉnh chặt chẽ của NHNN.
Chịu sự chi phối các văn bản luật và dưới luật trong ngành như: Luật các tổ chức tín [2]Quản trị markting ñịnh hướng giá tri(2011), Nhà XB Lð xã hội, trang 136 13 dụng, các Nghị ðịnh, Thông tư hướng dẫn có liên quan ñể ñiều chỉnh các hành vi cạnh tranh ña dạng và liên tục thay ñổi nhằm duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh của các tổ chức tín dụng * Môi trường kinh tế: Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa ñựng những cơ hội và ñe doạ khác nhau ñối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng ñến các chiến lược của doanh nghiệp. ðây là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà quản trị. Sự tác ñộng của các yếu tố của môi trường này có tính chất trực tiếp và năng ñộng hơn so với một số các yếu tố khác của môi trường tổng quát. + Tốc ñộ tăng trưởng của nền kinh tế: Nền kinh tế ở giai ñoạn có tốc ñộ tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cơ hội cho ñầu tư mở rộng hoạt ñộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngược lại khi nền kinh tế sa sút sẽ dẫn ñến giảm chi phí tiêu dùng ñồng thời làm tăng lực lượng cạnh tranh.
Thông thường sẽ gây nên chiến tranh giá cả trong các ngành sản xuất kinh doanh ñặc biệt trong các ngành ñã trưởng thành. + Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối ñoái: ñiều này có thể cũng có thể tạo vận hội tốt hoặc xấu cho sự phát triển của doanh nghiệp ñặc biệt nó tác ñộng ñến quan hệ xuất nhập khẩu. Thông thường chính phủ sử dụng công cụ này ñể ñiều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu theo hướng có lợi cho nền kinh tế.