CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÁ NHÂN C ỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.KHÁI NIỆM NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống Ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng thương mại, được biết đến với chức năng kinh doanh tiền tệ. Hơn bất cứ tổ chức tài chính nào khác, Ngân hàng thương mại luôn được coi là bách hoá tài chính, cung ứng rất nhiều các sản phẩm, dịch vụ về tài chính. “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và cũng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” để xây dựng khái niệm Ngân hàng thương mại, có thể dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, hoặc kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Theo luật pháp nước Mỹ: “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi 1 Ngân hàng Trung ương Thuỵ điển – Bank of Sweden thành lập vào năm 1669 được coi là Ngân hàng trung ương đầu tiên trên thế giới, tiếp đến là Ngân hàng Trung ương Anh – Bank of England, 1694, Ngân hàng Trung ương Mỹ – US Federal Reserve, 1912.
cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”. Theo Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 “những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay tài chính thì được coi là Ngân hàng”. Luật Ngân hàng của Ấn độ ban hành năm 1950, bổ sung năm 1959 đã quy định: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. 10 Khái niệm Ngân hàng thương mại của Luật Ngân hàng (Đan Mạch, 1930) căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạt động: “Những Ngân hàng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, bảo hiểm,…”.
Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng Số 47/2010/QH12 được Quốc hội khoá XII thông qua ngày 16/6/2010: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt độngngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Như vậy, với tư cách là trung gian tài chính, kinh doanh tiền tệ và cung ứng nhiều dịch vụ tài chính, khái niệm Ngân hàng thương mại có thể được xây dựng từ nhiều bình diện khác nhau. Cùng với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng trên khắp thế giới, quy định pháp luật của từng quốc gia lại có thể mở rộng tối đa hoặc hạn chế hoạt động của Ngân hàng thương mại trong một số lĩnh vực nhất định.
Như vậy, Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán trong nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng thương mại được biểu hiện qua chênh lệch tỷ giá hối đoái; chênh lệch lãi suất; chuyển đổi kỳ hạn nguồn vốn – tài sản; chuyển đổi rủi ro nguồn vốn – tài sản; và tích tụ và tập trung tư bản. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 1.
Khái niệm Cho vay khách hàng cá nhân là ho ạt động tín dụng của ngân hàng cho chủ thể là các cá nhân, hộ gia đình.ngân hàng tài trợ vốn cho cá nhân, ph ục vụ việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng c ủa cá nhân trong m ột khoả ng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn tr ả đúng thời hạn cả gốc và lãi. Đặc điểm của hoạt động cho vay cá nhân Các kho ản cho vay v ới khách hàng cá nhân thường là các khoản vay nh ỏ nhưng số lượng các khoản vay lại rất lớn.Về cơ bản các khoản cho vay với khách hàng cá nhân thường là các khoản tín dụng có chất lượng tương đối tốt, tuy vậ y các khoản tín dụng này ch ỉ tốt khi ở phía khách hàng không xẩ y ra các bi ến cố. Và bên cạnh đó các khoản tín dụng này thường chứa đựng rủi ro rất cao nên các ngân hàng thương mại thường áp dụng mức lãi suất cao với các khoản vay này Về thời hạn tín dụng. Các khoản cho vay cá nhân thường là các khoản vay ngắn hạn, trung hạn.trong dài h ạn rất ít vì các kho ản vay này ch ủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân , một phần phục vụ sả n xuất nhưng thường là sản xuất với quy mô không lớn.
Hoạt động cho vay là hoạt động truyền thống đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng, nguồn thu này ph ụ thuộc vào quy mô c ủa khoản vay, thời h ạn và lãi su ất của khoản vay và cả ba yếu tố này có mối liên hệ khăng khít với nhau. V ới thời h ạn vay như nhau, khoản vay nào có quy mô lớn hơn thì bên vay sẽ phải trả s ố tiền lãi nhiều hơn; và với các khoản vay có quy mô b ằng nhau thi kho ản vay nào có th ời hạn lớn hơn sẽ phải trả số tiền lãi nhiều hơn; nế u các khoản vay có thời hạn và quy mô như nhau nhưng khoản vay nào có lãi suất được bên vay và bên cho vay thoả thuận lớn hơn thì số tiề n lãi phải trả lớn hơn, tuy nhiên các yếu tố này lại cũng chịu sự tác động qua l ại lẫn nhau, ví d ụ như thời hạn vay càng lớn thì lãi suất càng cao. Ngân hàng có th ể nỗ lực làm tăng quy mô khoản vay nhưng trong khi đầu tư vào nỗ lực đó thì sẽ làm tăng thêm chi phí hoạt động, ngân hàng có thể sử dụng lãi suất để khuyến khích ho ặc hạn chế việc khách hàng vay vốn, tuy nhiên m ọi sự điều chỉnh 12 đều phải tính đến mức lãi suất cơ bản và lãi suất chung trên thị trư ờng bởi vì khách hàng hiện nay có rất nhiều sự lựa chọn khi tham gia vào thị trường tài chính nên nếu khung lãi suấ t không hấp dẫn sẽ không thu hút được khách hàng. Quy mô c ủa khoản vay là yếu t ố ít chịu sự tác động c ủa ngân hàng mà chủ yếu phụ thuộc vào mục đích của ch ủ thể vay vốn, quy mô khoản vay càng lớn thì lãi su ất ngân hàng thu được càng lớn và ngược lại.
Hoạt động cho vay, đi liền với lợi nhuận thu được là nhữ ng rủi ro tiềm ẩn và tổn thất nếu xảy ra là rất lớn. Do đó, việc quản lý hoạt động cho vay của ngân hàng yêu cầu sự thận tr ọng và cẩn thậ n kể từ khi ra quyết định cho vay cho đến khi thu hồi được vốn. Vị thế của khách hàng cá nhân đối với hoạt động kinh doanh c ủa ngân hàng thương mại. Hoạt động trước kia của các ngân hàng thương mại ch ủ yếu chỉ tập trung vào đối tượng khách hàng là các doanh nghi ệp lớn, các tổ chức kinh tế có những khoản vay lớn.
Mà ít chú tr ọng đến đối tượng khách hàng là các cá nhân, d ẫn đến những lãng phí trong khai thác tiềm năng cũng như lợi ích từ nhóm đối tượng khách hàng này. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, các ngân hàng thương mại cũng đã có những điều chỉ nh trong hoạt động của mình, chú tr ọng nhi ều hơn đến đôí tượng khách hàng là các cá nhân. các s ản phầm cho đối tượng khách hàng cá nhân ngày một đa dạng… Đối tượng khách hàng cá nhân không ch ỉ là đối tượng có nhu c ầu vay vốn. Mà nh ững đối tượng này còn là một lực lượng cung cấp cho các ngân hàng một lượng vốn tương đối l ớn và ổn định ngoài ra các hoạt độ ng d ịch v ụ của ngân hàng được sử dụng chủ yếu bởi các đối tượng này.
Nguồn vốn này chủ yếu là các khoản tiết kiệ m của các cá nhân, vì v ậy tính ổn định của nó rất cao tạo thuận lợi cho việc đầu tư vào các tài sản trung và dài hạn của các ngân hàng Tạo dựng t ốt mối quan h ệ với nhóm đối tượng khách khách hàng này, các ngân hàng thương mại vừa tiếp cận được các món cho vay phát sinh từ nhu c ầu tiêu 13 dùng cũng như mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của các khách hàng cá nhân. Bên cạnh đó khi có những khoản tiết kiệ m hình thành từ nhóm khách hàng này thì các ngân hàng đó cũng là nơi mà khách hàng thường sẽ lựa chọ n g ửi tiền tiết ki ệm của mình. Tóm lại khách hàng cá nhân là nhóm khách hàng có một vị trí rất quan trọng trong hoạt động c ủa một ngân hàng thương mại. Vị thế này không những được lý thuyết khẳng định mà còn được thự c tế hoạt động tín dụng của ngân hàng chứng minh.
Nguồn gốc hình thành hoạt động cho vay khách hàng cá nhân. Hoạt động vay mượn trong nền kinh tế có nguồn gốc từ những quan hệ kinh tế mà tại đó việc thanh toán chi trả không thự c hiện được hoặc khó có th ể thực hiện được ngay. Chính vì v ậy thông qua sự tin tưởng cũng như hiểu biế t lẫn nhau mà hoạt động tín dụng đã ra đời. Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu tiêu dùng c ủa mỗi cá nhân nói riêng và tiêu dùng của toàn xã hội nói chung s ẽ ngày càng được mở rộng cả về quy mô lẫ n chất lượng.