CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ CO BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng thương mại Tín dụng là một trong những hoạt động quan trọng mang tính truyền thống và đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay, trong đó ngân hàng chuyến giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ hoạt động thường xuyên chủ yếu nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay làm nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng ngày 15/6/2004,“Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.Tố chức tín dụng là doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật này các quy định khác của pháp luật. Hoạt động ngân hàng kinh doanh tiền tệ dịch vụ ngân hàng thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.2 Phân loại tín dụng Đê phân loại tín dụng người ta dựa vào các tiêu thức khác nhau. * Căn cứ vào thòi hạn cho vay + Cho vay ngắn hạn : Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. 5 + Cho vay trung hạn: Có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm, chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
+ Cho vay dài hạn: Loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa có thế lên tới 20-30 năm là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu vốn dài hạn. * Căn cứ vào mục đích cho vay: + Cho vay tiêu dùng: Là hình thức tài chợ cho mục đích chi tiêu cá nhân hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng không chỉ trang trải các nhu cầu thiết yếu mà có thể đáp ứng những nhu cầu về mặt hàng xa xỉ trong cuộc sống như nhà ở phương tiện đi lại ô tô,xe máy hay tiện nghi sinh h o ạ t,trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ. + Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở đất đai bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ + Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu: Là một hình thức tài chợ thương mại kỳ hạn ngắn với thời gian thực hiện một thương vụ xuất nhập khẩu.
Đối tượng nhận tài trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Cho vay kinh doanh xuất nhập khấu nhằm đáp úng nhu cầu đặc thù về tài chính uy tín trong kinh doanh các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu trong qúa trình giao dịch ngoại thương * Căn cứ vào tính chất đảm bảo khoản vay: + Cho vay không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính tốt có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. 6 + Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay được ngân hàng cung ứng, phải có tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ 3.
Đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo.Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ 2, bo sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. * Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: + Cho vay trả góp: là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ. Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng cho vay bất động sản nhà ở, cho vay tiêu dùng cho vay đối với nhũng người kinh doanh nhỏ. + Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
+ Cho vay gián tiêp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán Trong cho vay gián tiếp, các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp các loại sau Chiết khấu thương mại mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc trả góp, mua các khoản nợ của doanh nghiệp * Căn cứ vào phương thức cho vay: + Cho vay theo hạn mức thấu chi: Đây là nghiệp vụ cho vay qua đó NH cho phép doanh nghiệp được phép chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Điều này có nghĩa khách hàng được phép chi trả vượt quá số tiền có trong tài khoản, đồng thời khi nhập tiền về NH sẽ thu nợ gốc và lãi. Đe được vay thấu chi doanh nghiệp phải làm làm đơn xin NH hạn mức thấu chi và thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho NH). Sổ lãi phải Lãi suất Thời gian số tiền thấu = X X trả thâuchi thấu chi chi 7 Các khoản thấu chi quá hạn phải chịu lãi suất và chỉ sử dụng hình thức này Hình thức này thường được áp dụng với khách hàng mà việc thu chi không phù họp về thời gian và quy mô.
Hình thức này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán chủ động, nhanh, kịp thòi. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn không có bảo đảm có thể cấp cho doanh nghiệp trong vài ngày, trong tháng, vài tháng, trong năm. Hình thức này chỉ sử dụng đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn. + Hình thức cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay mà mỗi lẩn vay doanh nghiệp phải làm đơn và trình NH phương án sử dụng vốn vay.
Hình thức cho vay này được áp dụng cho khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Các doanh nghiệp này sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, khi cần có nhu cầu thời vụ, hoặc mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay NH. Mỗi lần vay doanh nghiệp phải làm đơn và trình NH phương án sử dụng vốn vay. NH sẽ phân tích doanh nghiệp và ký họp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ.
Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau. Đây là điều nhằm đảm bảo tra cún thông tin khi cần thiết. Số lượng Nhu cầu vốn cho v ố n chủ sở Các nguồn vốn cho vay sản xuất kinh doanh hữu tham gia khác tham gia Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo: Số lượng — Giá trị tài sản 'k Tỷ lê cho vay trên giá tri cho vay đảm bảo tài sản đảm bảo Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng NH sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình doanh nghiệp sử dụng vốn vay, NH có quyền kiếm tra mục đích và hiệu quả của việc sử dụng vốn vay.
Nếu thấy dấu hiệu vi phạm những điều kiện đã ghi trong hợp đồng NH có quyền thu nợ trước hạn, chuyển thành nợ quá hạn. 8 + Hình thức cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay mà NH thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức có thể được tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Hạn mức tín dụng được cấp dựa trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Hạn mức tín Nhu cầu vốn Nguồn vốn kinh v ố n coi vổn dụng ngắn hạn trong kỳ doanh ngắn hạn như tự có khác Đối với cho vay trung và dài hạn được tính theo cách khác. Tín dụng ngân hàng = Nhu cầu đầu tư - Các nguồn khác tham gia Theo hình thức cho vay theo hạn mức thì khách hàng có thể thực hiện vay trả làm nhiều lần nhưng không được vượt quá hạn mức tín dụng. Dư nợ trong kỳ có thể vượt quá hạn mức tín dụng nhưng cuối kỳ thì số dư không được vượt quá.Hình thức này thuận tiện cho các doanh nghiệp vay thường xuyên, vốn vay thường xuyên tham gia vào quá trình sản xuất. Đối với hình thức này NH không ấn định trước ngày trả nợ và khoản vay sẽ được thanh toán khi khách hàng có thu nhập về tài khoản.
Khi khách hàng có thu nhập, NH sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho doanh nghiệp. + Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng NH chấp thuận cho khách hàng được sử số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng 1. Quy trình tín dụng Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cho vay.Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định. Đây là một quá trình nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, đồng thời có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau trong việc thực hiện cấp tín dụng, cán bộ tín dụng cần phải tuân theo quy trình nghiệp vụ, tránh sai sót rủi ro trong quá trình thực hiện.
Quy trình cho vay gồm các bước như sau.