CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu, vừa mang lại nguồn thu đồng thời cũng hàm chứa nhiều rủi ro đối với hoạt động của các NHTM. Chính vì vậy, nghiên cứu về tín dụng từ quản lý rủi ro, quản lý khách hàng, quản lý danh mục cho vay, đến những vấn đề như chất lượng tín dụng, nợ xấu…đã được nhiều nghiên cứu đề cập.
Các nghiên cứu này có phạm vi nghiên cứu toàn hệ thống, từng ngân hàng và đến cả chi nhánh ngân hàng. Có thể kể đến một số tài liệu và nghiên cứu dưới đây: Luận án kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Thu Đông (2012) tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân về Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập đã nghiên cứu từ lý luận chung về tín dụng ngân hàng, luận án đã đưa ra quan niệm về chất lượng tín dụng ngân hàng và xây dựng hệ thống một số nhóm chỉ tiêu để phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng trong quá trình hội nhập. Một số nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại (NHTM) thể hiện trên các mặt cụ thể sau: (1) Đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế; (2) Phương diện lợi ích chủ sở hữu NHTM;(3) Năng lực tài chính của NHTM; (4) Mức độ an toàn hoạt động tín dụng của NHTM; (5) Năng lực quản lý hoạt động tín dụng của NHTM. Luận án cũng đã giới thiệu một số mô hình định lượng đánh giá chất lượng tín dụng của khách hàng pháp nhân tại NHTM và sử dụng nguồn số liệu thứ cấp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) từ năm 2006 – 2010 và từ việc sử dụng hệ thống các nhóm chỉ tiêu đã xây dựng để đánh giá chất lượng tín dụng trên mặt định tính, luận án đã chỉ ra việc ứng dụng hệ 5 z thống các nhóm chỉ tiêu đã phản ánh được thực trạng chất lượng tín dụng của VCB trong điều kiện hội nhập.
Luận án tiến sĩ Tài chính-Ngân hang của tác giả Nguyễn Tuấn Anh (2012) tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân về Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã áp dụng các quan niệm về mặt rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng vào bối cảnh ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án đã đưa ra các dấu hiệu cơ bản để nhận biết rủi ro tín dụng Việt Nam, bao gồm nhóm các dấu hiệu phát hiện và cảnh báo sớm rủi ro và nhóm các yếu tố nhận diện rủi ro, cũng như cách đo lường rủi ro tín dụng. Trên cở sở đó, Luận án đã đề xuất mô hình quản trị rủi ro tín dụng theo các quy tắc và chuẩn mực của ngân hàng hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển ổn định, bền vững của ngành ngân hàng Việt Nam.Luận án đề xuất mô hình đo lường rủi ro hiện tại và tương lai, qua đó xây dựng hệ thống chấm điểm và xếp hạng khách hàng theo chuẩn mực quốc tế.Tiếp cận các chuẩn mực quản lý rủi ro tín dụng theo Ủy ban BASEL, kết hợp với các tiêu chuẩn của Việt Nam, Luận án đã đưa ra một hệ thống đầy đủ các tiêu chí định tính và định lượng để đánh giá hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam – điều mà các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chưa đưa ra đầy đủ. Các nội dung và tiêu chí đánh giá này là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng và đảm bảo thành công cho một chiến lược quản trị rủi ro tín dụng hoàn thiện tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nói riêng. Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Minh Hương (2007) tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nộivề Giải pháp mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) Hà Nội đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về tín dụng và DNNVV, phân tích thực trạng mở rộng tín dụng đối với DNNVV tại Chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội.
Qua đó rút ra những kết quả đạt được, tồn tại và những nguyên nhân của những tồn tại để đề xuất một số giải pháp và kiến nghị 6 z nhằm mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV tại Chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội.Tuy nhiên luận văn chủ yếu quan tâm tới mặt số lượng mà chưa chú ý nhiều tới chất lượng tín dụng.Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, chất lượng tín dụng phải luôn được quan tâm hàng đầu vì là vấn đề sống còn của một ngân hàng. Luận văn thạc sĩ kinh tế của Mai Thị Lệ Oanh (2010) tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh về Giải pháp phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đông Sài Gòn đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận về tín dụng đối với DNNVV, vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV cũng như tìm hiểu kinh nghiệm hỗ trợ tín dụng đối với DNNVV của một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Điểm nổi bật của luận văn là đã phân tích được thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNNVV của một số NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như NHTM Cổ phần Quân Đội, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Tây Sài Gòn,…từ đó có cơ sở để so sánh, đánh giá thực trạng, những hạn chế trong việc phát triển tín dụng đối với DNNVV tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đông Sài Gòn, và đưa ra những giải pháp phát triển tín dụng đối với DNNVV tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đông Sài Gòn. Luận văn thạc sĩ Tài chính-Ngân hàng của tác giả Nguyễn Thị Ánh Nhung (2014) tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN về Chất lượng tín dụng bán lẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hưng Yên đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về tín dụng bán lẻ và chất lượng tín dụng bán lẻ tại NHTM nói chung và đi sâu phân tích thực trạng chất lượng tín dụng bán lẻ tại BIDV Hưng Yên trong giai đoạn 2011 - 2013.Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng tín dụng bán lẻ của BIDV Hưng Yên trong giai đoạn 2011 – 2013, luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng bán lẻ tại BIDV Hưng Yên trong thời gian tới.
7 z Có thể nói, nghiên cứu về hoạt động quản lý tín dụng tại các NHTM đã được nghiên cứu khá nhiều. Tuy nhiên, trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam, nghiên cứu hoạt động quản lý tín dụng tại hệ thống BIDVnói chung và BIDV – Chi nhánh Hà Nam nói riêng dưới góc độ quản lý kinh tế là không trùng lắp, có tính thực tiễn, nhất là trên cơ sở đánh giá thực tiễn để đề xuất các giải pháp hoàn thiện cho chi nhánh. Quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Khái quát chung về tín dụng 1.
Khái niệm Tín dụng là quan hệ vay mượn, tạm thời sử dụng vốn của nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả và sự tin tưởng. Trong nền kinh tế thị trường, nhiều loại hình quan hệ tín dụng cùng tồn tại như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế. Trong đó tín dụng ngân hàng có thể được coi là quan hệ tín dụng quan trọng nhất, phổ biến nhất với nền kinh tế và thường xuyên được quan tâm nghiên cứu.Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng thương mại, một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, một bên là các chủ thể còn lại của nền kinh tế. Tuy nhiên, quan niệm phổ biến về tín dụng ngân hàng là: Tín dụng ngân hàng được hiểu là việc cho vay của Ngân hàng thương mại với các chủ thể của nền kinh tế.
Theo Bách khoa toàn thư mở, tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa.Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa.
Xuất hiện sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa: giàu, nghèo, người nắm quyền lực, người không có gì.Khi người nghèo gặp phải 8 z những khó khăn không thể tránh thì buộc họ phải đi vay, mà những người giàu thì câu kết với nhau để ấn định lãi suất cao, chính vì thế, tín dụng nặng lãi ra đời. Trong giai đoạn tín dụng nặng lãi, tín dụng có lãi suất cao nhất là 40-50%, do việc sử dụng tín dụng nặng lãi không phục vụ cho việc sản xuất mà chỉ phục vụ cho mục đích tín dụng nên nền kinh tế bị kìm hãm động lực phát triển. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ. Tín dụng, còn gọi là cho vay, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theolãi suất.
Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,.