Chương 1: Cơ sở phương pháp luận về hiệu quả kinh doanh 16 Doanh nghiệp không những có trách nhiệm đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động mà còn có trách nhiệm nâng cao đời sống tinh thần cũng như vật chất. Trên góc độ kinh tế, hiệu quả này phản ánh thông qua chỉ tiêu tăng thu nhập bình quân trên một đầu người, gia tăng đầu tư xã hội, mức hưởng phúc lợi. CÁC PHƯƠNG PHÁP KHI PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH. Phương pháp chi tiết.
Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo những hướng khác nhau. Thông thường trong phân tích, phương pháp chi tiết được thực hiện theo những hướng sau: 1.1 Chi tiết theo những bộ phận cấu thành chỉ tiêu. Mọi kết quả kinh doanh biểu hiện các chỉ tiêu bao gồm nhiều bộ phận. Chi tiết các chỉ tiêu theo các bộ phận cùng với biểu hiện về lượng của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác các kết quả đạt được.
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong phân tích mọi mặt kết quả kinh doanh. Chi tiết theo thời gian. Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình. Chi tiết theo thời gian sẽ làm cho việc đánh giá kết quả kinh doanh được chính xác, đúng và tìm các giải pháp có hiệu quả cao cho công việc kinh doanh.
Tùy theo đặc tính của quá trình kinh doanh, tùy nội dung kinh tế của chỉ tiêu phân tích và tùy mục đích phân tích khác nhau có thể lựa chọn khoảng thời gian và chỉ tiêu chi tiết cho phù hợp. Chi tiết theo địa điểm. Phương pháp này nhằm đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, phạm vi và địa điểm khác nhau nhằm khai thác mặt mạnh và yếu của từng bộ phận. Một số giải pháp nâng cao HQHĐKD Ngân hàng TMCP Quân đội Việt Trì Hv:Trần Thị Đan Giang Chương 1: Cơ sở phương pháp luận về hiệu quả kinh doanh 17 1.
Phương pháp so sánh. Phương pháp so sánh được sử dụng rộng rãi nhất trong khi phân tích hiệu quả kinh doanh. Phương pháp so sánh chia ra hai phương pháp, đó là so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối. Phương pháp so sánh tuyệt đối.
Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện số lượng quy mô của các hiện tượng kinh tế. Mức tăng giảm tuyệt đối = Trị số chỉ tiêu - Trị số chỉ tiêu của các chỉ tiêu kỳ phân tích kỳ gốc Mức tăng giảm trên chỉ phản ánh về lượng, thực chất của việc tăng giảm nói trên không nói là có hiệu quả, tiết kiệm hay lãng phí. Phương pháp này được dùng kèm với các phương pháp khác khi đánh giá hiệu quả giữa các kỳ. Phương pháp so sánh tương đối.
Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so sánh với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh này biểu hiện kết cấu mối quan hệ, tốc độ phát triển mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế: Trị số kỳ phân tích Mức tăng giảm tương đối = X 100% của các chỉ tiêu Trị số kỳ gốc Nếu kết quả lớn hơn 100% thì doanh nghiệp làm ăn có lãi và ngược lại. Phương pháp thay thế liên hoàn Một số giải pháp nâng cao HQHĐKD Ngân hàng TMCP Quân đội Việt Trì Hv:Trần Thị Đan Giang Chương 1: Cơ sở phương pháp luận về hiệu quả kinh doanh 18 Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu phân tích. Phương pháp này được sử dụng trong phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới đối tượng phân tích bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác tác động tới đối tượng phân tích 1. Phương pháp số chênh lệch Phương pháp số chênh lệch là một dạng đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn nhằm phân tích các nhân tố thuận lợi ảnh hưởng tới sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế.
Phương pháp này chỉ sử dụng trong trường hợp nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu bằng tích số và cũng có thể áp dụng trường hợp các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu bằng thương số. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HĐKD CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Đặc điểm hoạt động của ngân hàng thương mại 1.1 Hoạt động kinh doanh của NHTM 1.1 Định nghĩa NHTM Theo tính chất và mục tiêu hoạt động các loại hình ngân hàng gồm: NHTM, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại ngân hàng khác. Do vậy, Ngân hàng thương mại chỉ là một nhóm trong số các tổ chức tài chính trung gian, người ta gọi chung là "Các định chế tài chính" có chức năng giống nhau là dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Trong các định chế tài chính, NHTM là định chế có kỳ hạn quan trọng nhất, ở nhiều góc độ khác nhau người ta định nghĩa NHTM như sau: (Theo luật các TCTD Việt Nam) " NHTM là doanh nghiệp Một số giải pháp nâng cao HQHĐKD Ngân hàng TMCP Quân đội Việt Trì Hv:Trần Thị Đan Giang Chương 1: Cơ sở phương pháp luận về hiệu quả kinh doanh 19 được thành lập theo quy định của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán" Qua định nghĩa về NHTM cho thấy một số chức năng cơ bản mà các NHTM đảm nhận, phân biệt tương đối với các chức năng của các trung gian tài chính khác.2 Hoạt động cơ bản của NHTM * Tạo lập nguồn vốn NHTM là tổ chức kinh doanh trên lĩnh vự tiền tệ, cũng như các doanh nghiệp kinh doanh khác.
Việc tạo lập vốn là nhân tố để đáp ứng hoạt động kinh doanh Biểu đồ số 01: Cơ cấu vốn của ngân hàng CƠ CẤU VỐN CỦA NGÂN HÀNG Vốn vay Vốn điều lệ Vốn bổ sung Vốn huy động Cơ cấu nguốn vốn của NHTM bao gồm: Vốn của ngân hàng Một số giải pháp nâng cao HQHĐKD Ngân hàng TMCP Quân đội Việt Trì Hv:Trần Thị Đan Giang Chương 1: Cơ sở phương pháp luận về hiệu quả kinh doanh 20 - Vốn điều lệ: Là vốn ban đầu được hình thành khi thành lập doanh nghiệp; Vốn này Nhà nước cấp nếu là NHTM nhà nước ( doanh nghiệp Nhà nước ), hoặc là cổ đông đóng góp khi là NHTM cổ phần. Vốn điều lệ tuỳ thuộc vào quy mô kinh doanh và do luật định. - Vốn bổ sung: Là bộ phận tự có tăng thêm trong quá trình hoạt động, bằng cách trích từ lợi nhuận kinh doanh, các quỹ dự trữ, lãi không chia cho các cổ phiếu hay tăng mức đóng góp của các cổ đông. Vốn của bản thân ngân hàng chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, công cụ lao động, mở rộng mạng lưới hoạt động, phát triển công nghệ kỹ thuật ngân hàng, hùn vốn liên doanh liên kết.
Vốn tự có vừa làm đệm để chống đỡ rủi ro, vừa làm căn cứ để duy trì các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng. Huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng. Các NHTM tiến hành huy động vốn bằng nhiều hình thức như: Mở tài khoản tiền gửi thanh toán ( tài khoản vãng lai), tài khoản tiền gửi có kỳ hạn (tài khoản tiền gửi), tiết kiệm của dân cư, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của ngân hàng. Phân theo kỳ hạn huy động vốn có thể chia vốn huy động làm hai loại: Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không có kỳ hạn.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đối với các NHTM Việt Nam huy động vốn tiền gửi không kỳ hạn có 2 hình thức chính: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân cư và tiền gửi trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế xã hội và cá nhân. + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân cư: Là hình thức gửi tiền và rút tiền ra khỏi ngân hàng một cách thường xuyên, bất kỳ thời điểm nào. Mục đích của khách hàng không phải gửi tiền để hưởng lãi mà chủ yếu để Một số giải pháp nâng cao HQHĐKD Ngân hàng TMCP Quân đội Việt Trì Hv:Trần Thị Đan Giang Chương 1: Cơ sở phương pháp luận về hiệu quả kinh doanh 21 đảm bảo thanh toán và an toàn tài sản. + Tiền gửi trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế - xã hội và cá nhân: Mục đích chủ yếu là phục vụ nhu cầu thanh toán.
Khách hàng mở tài khoản thanh toán tại các NHTM thông qua tài khoản để ghi "Có" các khoản thu nhập của họ hoặc sử dụng để ghi "Nợ" trả tiền hay rút tiền mặt theo yêu cầu bằng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt như: Séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ thanh toán. Hai hình thức tiền gửi trên thông thường được ngân hàng trả lãi suất thấp và không ổn định. - Tiền gửi có kỳ hạn: Bao gồm tiền gửi của cá nhân,các tổ chức kinh tế xã hội. Tiền gửi có kỳ hạn thông thường chỉ được rút ra theo kỳ hạn.
Đối với tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng có thể gửi vào, rút ra theo yêu cầu. Song loại tài khoản này không được dùng phát hành séc, cũng như sử dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt khác. Khi khách hàng muốn rút trước hạn trên tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, ngân hàng sẽ trích chuyển từ tài khoản có kỳ hạn sang tài khoản tiền gửi thanh toán và từ tài khoản này khách hàng mới rút tiền mặt hay chuyển khoản thanh toán khác. Đặc điểm của tiền gửi có kỳ hạn là lãi suất cao.
Khách hàng gửi tiền với mục đích lấy lãi vì vậy tiền gửi có kỳ hạn có tính ổn định cao. - Phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM phát hành kỳ phiếu và trái phiếu, đặc điểm là có kỳ hạn và lãi suất hay khoản lãi được hưởng khi đáo hạn thanh toán được ghi ngay trên bề mặt của kỳ phiếu hay trái phiếu. Hình thức huy động vốn này được thực hiện với mục đích sử dụng vốn rõ ràng, số lượng và thời gian phát hành nhất định.