Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến trong tự nhiên, xã hội và kinh tế. Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu, những khái niệm khác nhau về cạnh tranh tùy thuộc vào cách nghiên cứu tiếp cận khác nhau.
Cạnh tranh được xem là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, liên quan mật thiết đến sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Lý thuyết cạnh tranh hiện đại gắn liền với nền kinh tế thị trường hiện đại được hình thành từ giữa thế kỷ XX đến nay. Các nhà kinh tế học xác định cạnh tranh là sự ganh đua, tranh đấu giữa các chủ thể sản xuất hoặc/và tiêu dùng trên thị trường nhằm tranh giành những lợi ích kinh tế sao cho mình có lợi nhất. Cạnh tranh có tính chất hai mặt: Tác động tích cực và tác động tiêu cực.
Cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Tuy nhiên cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến tranh giành, khống chế lẫn nhau tạo nguy cơ rối loạn thậm chí là đổ vỡ lớn. Trong buổi hội thảo bàn về cạnh tranh toàn cầu và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam diễn ra vào ngày 29/11/2010, nhà kinh tế học Michael Porter đã định nghĩa: “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”.
Một cách phổ biến nhất nói về cạnh tranh là phải cạnh tranh để trở thành công ty tốt nhất trong lĩnh vực mà mình hoạt động. Đó là cách nghĩ khá tự nhiên mà con người đang muốn thực hiện đó là trở thành “số một”. Nhưng giáo sư Michael Porter đã khẳng định rằng đó là cách suy nghĩ khá nguy hiểm về chiến lược. Ông khẳng định rằng, nếu bạn đang làm việc trong một tổ chức nào đó thì không chỉ nhận thấy một lần mà rất nhiều lần “không có công ty nào tốt nhất cả vì có rất nhiều cách để cạnh tranh, nhiều cách để đưa đến giá trị cho các khách hàng”.
Thách thức của bạn là đưa ra những gì mà các đối thủ cạnh tranh của bạn không có, đó chính là sự khác biệt. 6 Như vậy, cạnh tranh chính là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế với nhau thông qua các hành động, sự phấn đấu và khả năng áp dụng những biện pháp để giành được lợi thế trên thương trường, sao cho có thể có được ưu thế về danh tiếng, thị phần, lợi nhuận, khác biệt hơn. so với đối thủ. Mục tiêu hàng đầu đặt ra của chiến lược cạnh tranh là đạt được giá trị cạnh tranh (điều này được đo bằng lợi nhuận thu về/số vốn đầu tư).
Tăng trưởng là tốt nhưng tăng trưởng chỉ là mục tiêu tiếp theo sau sự đạt được lợi nhuận. Trong bài viết này tác giả hiểu rằng: năng lực cạnh tranh được thể hiện thông qua khả năng xây dựng, duy trì, sử dụng nội lực và ngoại lực của doanh nghiệp và sáng tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế vì mục tiêu cao nhất là mang lại lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu (1997) của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) do các giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra.
Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp độ như sau: Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị trường, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có được. 7 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó.
Nó dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm, dịch vụ đó. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Từ những lý thuyết và năng lực cạnh tranh nói chung, tác giả cụ thể hóa áp dụng lý thuyết vào hoạt động cạnh tranh của NHTM như sau: NHTM cũng là một doanh nghiệp - một doanh nghiệp đặc biệt do sản phẩm, dịch vụ kinh doanh của nó mang tính đặc biệt, đó là tiền tệ. Để NHTM tồn tại thì mục tiêu cuối cùng của NHTM cũng vì lợi nhuận. Do vậy, có thể khái niệm về năng lực canh tranh của ngân hàng thương mại như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng do chính ngân hàng thương mại tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận; có khả năng vượt qua những thử thách, những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh để đạt được mục tiêu đề ra đó là lợi nhuận và tăng trưởng bền vững”.
Tính chất doanh nghiệp đặc biệt của ngân hàng thương mại có thể nhận thấy qua phần giải thích từ ngữ về ngân hàng thương mại và hoạt động ngân hàng tại điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 16/6/2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. Do tính chuyên biệt của mình, cạnh tranh của NHTM có những đặc thù nhất định như sau: Thứ nhất, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng có liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, các mặt của đời sống kinh tế xã hội. Điều này đòi hỏi ngân hàng phải có hệ thống sản phẩm đa dạng, mạng lưới chi nhánh rộng và liên thông với nhau để phục vụ mọi đối tượng khách hàng. Thứ hai, sản phẩm kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, do đó đòi hỏi ngân hàng có phải có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp thể hiện ở kiến thức, nghiệp vụ…cở sở hạ tầng vững chắc, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, bảo mật và đặc biệt là NHTM phải xây dựng cho mình một thương hiệu, uy tín theo thời gian đối với khách hàng.
8 Thứ ba, NHTM phải có đội ngũ quản lý điều hành chuyên nghiệp, khả năng tài chính vững mạnh, kiến thức vĩ mô sâu rộng, khả năng phòng ngừa và kiểm soát rủi ro đảm bảo kinh doanh an toàn và hiệu quả. Cuối cùng, NHTM chịu sự chi phối các quy định chung của pháp luật, quy định dành riêng cho NHTM và chính sách tiền tệ của NHTW. Lợi thế cạnh tranh Có nhiều định nghĩa về lợi thế cạnh tranh khác nhau, điển hình: - Lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp thông qua cung cấp cho khách hàng giá trị lớn hơn họ kỳ vọng, dẫn đến thành quả vượt trội thể hiện qua các chỉ tiêu thông thường như thị trường và tài chính (Bharadwaj, Varadarajan & Fahy,1993; Hunt & Morgan, 1995, dẫn theo Fahy & Smithee (1999). - Theo Michael Porter (2004), lợi thế cạnh tranh là có chi phí thấp, lợi thế khác biệt hoặc có chiến lược tập trung thành công.
Lợi thế cạnh tranh tăng trưởng dựa trên cơ sở doanh nghiệp có năng lực tạo giá trị cho người mua vượt chi phí doanh nghiệp tạo ra nó - Theo Collis & Montgomery (2008), bất kể nguồn từ đâu, lợi thế cạnh tranh được quy về sở hữu nguồn lực có giá trị, làm cho doanh nghiệp có thể thực hiện tốt hơn và rẻ hơn so với đối thủ… 1. Các nhân tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của NHTM - Mô hình các nhân tố môi trường kinh doanh của Michael Porter 1. Phân tích năng lực cạnh tranh của NHTM theo mô hình các nhân tố môi trường kinh doanh của Michael Porter Như trên trình bày, năng lực cạnh tranh có khá nhiều khái niệm khác nhau, do đó việc đo lường và xác định các tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh là vấn đề chưa thống nhất. Để có căn cứ xác định rõ các tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh, tác giả hệ thống hóa cách thức và các tiêu chí đo lường được sử dụng trên thế giới những năm gần đây với mong muốn đo lường được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (NHTM).
9 Trên nền tảng sử dụng để phân tích năng lực cạnh tranh của NHTM dựa trên mô hình các nhân tố môi trường kinh doanh do Michael Porter đề xuất. Theo đó, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của NHTM được chia thành 4 nhóm theo sơ đồ sau: Điều kiện về nhu cầu Điều kiện về yếu tố sản xuất Các ngành cung (các yếu tố của bản ứng và liên quan thân doanh nghiệp) Ngữ cảnh doanh nghiệp Hình 1.1: Mô hình viên kim cương của Michael Porter Nguồn: Michael Porter, “Competitive Strategy”1980, trang 26 Như vậy, theo mô hình kim cương của M.Porter thì “việc đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ dựa vào khả năng bên trong của doanh nghiệp và còn phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp”. Theo mô hình này, các nhóm hình thành nên 4 đỉnh của cấu trúc kim cương. Các nhân tố này tạo ra một môi trường mà trong đó các doanh nghiệp được thành lập và cạnh tranh lẫn nhau.