LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hƣớng tất yếu. Đối với ngành tài chính ngân hàng, hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam; mở rộng cơ hội trao đổi hợp tác quốc tế giữa các ngân hàng thƣơng mại trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Qua đó các ngân hàng Việt Nam có điều kiện tranh thủ về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và phát huy lợi thế so sánh của mình để theo kịp yêu cầu cạnh tranh quốc tế và mở rộng thị trƣờng ra nƣớc ngoài.
Tuy nhiên, các ngân hàng Việt Nam cũng gặp phải thách thức to lớn trong cạnh tranh với các ngân hàng trong nƣớc và với ngân hàng nƣớc ngoài. Trong môi trƣờng cạnh tranh gay gắt hiện nay, Vietcombank cần phải làm gì để phát triển bền vững trong xu thế hội nhập và giữ đƣợc vị thế của một trong những ngân hàng hàng đầu ở Việt Nam cũng nhƣ đạt mục tiêu trở thành một tập đoàn tài chính đa năng, có quy mô tầm cỡ trong khu vực. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân Hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình với hy vọng nâng cao năng lực cạnh tranh giúp Vietcombank ngày càng lớn mạnh. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau: - Lý luận về năng lực cạnh tranh của các NHTM - Đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam trên cơ sở so sánh với các NHTM khác; đồng thời từ mô hình lý thuyết để tìm ra các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam và tiến hành khảo sát thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn và nghiên cứu định lƣợng.
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: + Không gian: Toàn bộ hệ thống Vietcombank trong mối tƣơng quan so sánh với với các NHTM khác. + Thời gian: Từ năm 2010 đến 30/06/2013.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh. - Nghiên cứu định tính kết hợp với định lƣợng sử dụng phần mềm SPSS 19.00 đo lƣờng các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của Vietcombank 5. Kết cấu của luận văn - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM. - Chƣơng 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam.
- Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh NHTM 1. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong lý thuyết kinh tế.
Song cạnh tranh là một hiện tƣợng có tính đa dạng và đa nghĩa nên ngƣời ta vẫn chƣa tìm đƣợc một nghĩa thống nhất cho khái niệm này. Do vậy tùy theo quan điểm nghiên cứu, cạnh tranh có các khái niệm khác nhau. Đứng trên quan điểm ngƣời bán, Paul Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng, thị trƣờng”. Chú trọng hơn đến tích chất cạnh tranh và phƣơng pháp cạnh tranh, Giáo sƣ Tôn Thất Nguyễn Thiêm cho rằng: “Cạnh tranh trên thƣơng trƣờng phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình”.
Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa và cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trƣờng. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hoá dƣới giá trị của nó nhƣng vẫn thu đƣợc lợi nhuận. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trƣờng đƣợc định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”.
Các tác giả trong cuốn “Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc sự án VIE/97/016” thì cho: cạnh tranh 4 có thể đƣợc hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trƣờng, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ nhƣ lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trƣờng nhƣ vậy đồng nghĩa với ganh đua. Từ các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh nhƣ sau: Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong môi trƣờng cạnh tranh. Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tƣợng mà chủ thể cùng hƣớng đến chiếm đoạt.
Việc cạnh tranh phải đƣợc diễn ra trong một môi trƣờng cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ. Cạnh tranh trong các NHTM là một quy luật tất yếu mà các ngân hàng đều phải thực hiện để tồn tại và phát triển. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, cạnh tranh trong các NHTM là sự ganh đua hợp pháp, sự đấu tranh gay gắt giữa các NHTM nhằm đạt đƣợc các mục tiêu cụ thể nhƣ thị phần, lợi nhuận, vốn, nhân lực hay đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh. Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của các NHTM.
Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có đƣợc, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nƣớc… Thông qua cạnh tranh các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trƣớc mắt và trong tƣơng lai, để từ đó có những hƣớng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh.2 Năng lực cạnh tranh Khái niệm NLCT đƣợc đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lƣợng vƣợt trội và giá cả thấp hơn các 5 đối thủ khác trong nƣớc và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt đƣợc lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho ngƣời lao động và chủ doanh nghiệp”. Năm 1988, Bộ thƣơng mại và Công nghiệp Anh đƣa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, NLCT là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm.
Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. NLCT có bốn cấp độ khác nhau: cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp và NLCT của sản phẩm hàng hóa. Đứng ở góc độ vĩ mô: “NLCT của một quốc gia là khả năng nền kinh tế quốc dân đạt đƣợc và duy trì mức tăng trƣởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tƣơng đối và các đặc trƣng kinh tế khác”, theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) (1997). Đứng ở góc độ vi mô hơn: NLCT của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra đƣợc lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lƣợng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
NLCT là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt đƣợc một số kết quả mong muốn dƣới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lƣợng các sản phẩm cũng nhƣ năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trƣờng hiện tại và làm nảy sinh thị trƣờng mới. NLCT của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Có nhiều quan niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM, có thể phát biểu nhƣ sau: Tác giả Đỗ Thị Minh Đức trong bài viết “Đánh giá NLCT của các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” đã đƣa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của các NHTM nhƣ sau: “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với NHTM khác”. Nhƣ vậy đây là một yếu tố năng động, luôn đƣợc đặt trong sự phát triển liên tục.
Các lợi thế so sánh (hiện có và đƣợc tạo ra) chỉ là những yếu tố tiềm năng, điều quan trọng là những yếu tố này phải đƣợc sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, đồng 6 thời phải luôn đầu tƣ nhằm duy trì và tăng cƣờng thêm năng lực một cách bền vững. Trong tác phẩm “Năng lực cạnh tranh của các NHTM trong xu thế hội nhập”, PGS.TS Nguyễn Thị Quy cho rằng: “NLCT của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt đƣợc mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vƣợt qua những biến động bất lợi của môi trƣờng kinh doanh”. Với khái niệm này thì PGS.