Chương 1: Lý luận chung về quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong phương thức TDCT tại NHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV). Chương 3: Các giải pháp quản trị rủi ro trong phương thức TDCT tại BIDV. Phầ n kế t luâ ̣n Phầ n tài liê ̣u tham khảo Phầ n phu ̣ lu ̣c 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG PHƢƠNG THƢ́C TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1 PHƢƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1 Khái niệm: Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán, trong đó, theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là thư tín dụng – letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng.2 Các bên tham gia: - Ngƣời xin mở LC (Applicant): Là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một LC, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo LC này.
Tùy hoàn cảnh cụ thể mà người xin mở LC có thể có những tên gọi khác nhau: người mua (buyer), người nhập khẩu (importer), người mở LC (opener), người trả tiền (accountee), người ủy thác (principal). - Ngƣời thụ hƣởng LC (Benneficiary): Theo quy định của LC, là người được hưởng tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán. Tùy vào hoàn cảnh cụ thể mà người thụ hưởng LC có thể có những tên gọi khác nhau như: người bán (seller), nhà xuất khẩu (exporter), người ký phát hối phiếu (drawer), người thắng thầu (contractor). - Ngân hàng phát hành LC (Issuing Bank): Là ngân hàng, theo yêu cầu của người mua, phát hành một LC cho người bán hưởng.
Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng mua bán. Nếu không có sự thỏa thuận trước thì nhà nhập khẩu tự chọn. - Ngân hàng thông báo (Advising Bank): Là NH được ngân hàng phát hành yêu 2 cầu thông báo LC cho người thụ hưởng. Ngân hàng thông báo thường là một ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà xuất khẩu.
- Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): Trong trường hợp nhà xuất khẩu muốn có sự đảm bảo chắc chắn của thư tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận LC theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Thông thường ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn, có uy tín và trong nhiều trường hợp ngân hàng thông báo được đề nghị là ngân hàng xác nhận LC. - Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank): Là NH xác nhận hoặc bất cứ một ngân hàng nào khác được NHPH ủy nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với quy định của LC thì: thanh toán (pay) cho người thụ hưởng; chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn; chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ; chịu trách nhiệm trả chậm (deferred payment) giá trị LC. Trách nhiệm của ngân hàng chỉ định giống như ngân hàng phát hành khi nhận bộ chứng từ của nhà XK gửi đến.
- Ngân hàng chiết khấu (Negotiating Bank): Là NH đứng ra chiết khấu bộ chứng từ và thường cũng là ngân hàng thông báo LC. Trường hợp LC quy định chiết khấu tự do thì bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể là ngân hàng chiết khấu. Tuy nhiên, cũng có trường hợp LC quy định chiết khấu tại một ngân hàng nhất định.3 Quy trình thực hiện giao dịch phƣơng thức tín dụng chứng từ Hình 01. Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ 3 Đây là quy trình thông dụng và cơ bản nhất.
Trên thực tế, có nhiều thư tín dụng phức tạp nên sẽ có thêm các ngân hàng tham gia với nhiều vai trò khác nhau như ngân hàng xác nhận… Khi đó, quy trình trên cũng sẽ có sự thay đổi. Bước 1: Hai bên mua, bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán theo phương thức LC Bước 2: Trên cơ sở các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, nhà nhập khẩu làm đơn gửi đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu phát hành một LC cho người xuất khẩu hưởng. Bước 3: Căn cứ đơn xin mở LC, nếu đồng ý, ngân hàng phát hành lập một LC và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước nhà xuất khẩu để thông báo về việc phát hành một LC đến nhà xuất khẩu. Bước 4: Khi nhận được thông báo LC, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho nhà xuất khẩu toàn bộ nội dung LC.
Bước 5: Nhà xuất khẩu nếu chấp nhận nội dung của LC thì tiến hành giao hàng, nếu không thì đề nghị người nhập khẩu thông qua ngân hàng phát hành tu chỉnh lại LC cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương. Bước 6: Sau khi giao hàng nhà XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu của LC và xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng phát hành LC để thanh toán. Bước 7: Khi ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng được chỉ định nhận bộ chứng từ, họ tiến hành kiểm tra tính hợp lệ bộ chứng từ. Bước 8: Trường hợp bộ chứng từ hợp lệ, ngân hàng phát hành yêu cầu người xin mở LC thanh toán (đối với LC trả ngay) hoặc chấp nhận thanh toán (đối với LC trả chậm) và chuyển bộ chứng từ cho người xin mở LC.
Trường hợp bộ chứng từ có bất hợp lệ, ngân hàng phát hành sẽ đi điện thông báo bất hợp lệ cho ngân hàng gửi bộ chứng từ đồng thời thông báo cho người đề nghị mở LC. Nếu người đề nghị mở LC và người thụ hưởng LC thương lượng chấp nhận bất hợp lệ, ngân hàng nhận chứng từ sẽ giao bộ chứng từ cho người đề nghị mở LC đổi lấy thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Nếu hai bên không thỏa thuận được bất hợp lệ, ngân hàng 4 nhận bộ chứng từ sẽ tiến hành hoàn trả bộ chứng từ cho ngân hàng xuất trình dựa trên chỉ thị của ngân hàng xuất trình. Bước 9: Ngân hàng phát hành thanh toán hoặc điện chấp nhận thanh toán tới ngân hàng chỉ định và ngân hàng chỉ định sẽ chuyển tiếp đến người xuất khẩu.2 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG PHƢƠNG THỨC TDCT 1.1 Những rủi ro trong phƣơng thức TDCT theo nguyên nhân phát sinh 1.1 Rủi ro tín dụng Là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên quan nhưng không có khả năng hoàn trả.
Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên. Đối với NHPH: khi phát hành LC ký quỹ dưới 100%, NHPH đã thực hiện việc cấp tín dụng cho nhà NK. Rủi ro tín dụng đối với NHPH xảy ra khi nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản. NHPH phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định của LC nhưng không có khả năng đòi hoàn trả từ nhà NK.
Đối với NHCK: khi thực hiện chiết khấu miễn truy đòi bộ chứng từ xuất khẩu, NHCK đã thực hiện mua lại quyền đòi tiền của nhà XK từ NHPH. Nếu NHPH mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản, thì rủi ro tín dụng thuộc về NHCK. Đối với NHXN: khi thực hiện việc xác nhận LC nhưng không yêu cầu NHPH ký quỹ 100% giá trị LC, NHXN chịu rủi ro tín dụng khi NHPH mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản.2 Rủi ro tỷ giá (rủi ro ngoại hối) Tỷ giá là yếu tố quan trọng trong thanh toán XNK. Thông thường khi thực hiê ̣n dịch vụ thanh toán LC , ngân hàng đồ ng thời hỗ trơ ̣ khách hàng trong viê ̣c đảm bảo ngoại tệ thanh toán khi đến hạn thanh toán LC bằng hoạt động mua bá n kinh doanh ngoại tệ.
Sự biến động tỷ giá có thể gây khó khăn cho ngân hàng để đảm bảo nguồ n ngoại tệ thanh toán , ngoại tệ khan hiếm không xoay sở kịp có thể gây chậm trễ thanh toán LC. Mặt khác sự biến động của tỷ giá có thể dẫn đến thua lỗ trong kinh 5 doanh của khách hàng khi mở LC để nhập hàng về. Từ đó có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ho ,̣ có thể dẫn đến rủi ro người mở từ chối thanh toán hay giảm khả năng trả nợ của khách hàng nếu khách hàng vay ngoại tệ để thanh toán LC.3 Rủi ro tác nghiệp Là những rủi ro về sai sót kỹ thuật nghiệp vụ do chính bản thân các bên tham gia gây nên. Thực tế cho thấy, những rủi ro tác nghiệp xảy ra tại các ngân hàng phần lớn do trình độ của cán bộ tác nghiệp.
Hậu quả của rủi ro tác nghiệp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín và tài sản của ngân hàng.4 Rủi ro công nghệ Rủi ro công nghệ phát sinh khi công nghệ áp dụng không đáp ứng được khối lượng, thời hạn giao dịch phát sinh. Chẳ ng ha ̣n khi LC đã đến hạn thanh toán nhưng vì trục trặc phần mềm dẫn đến thanh toán trễ.5 Rủi ro quốc gia Là loại rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị, kinh tế, về chính sách quản lý ngoại hối – ngoại thương của một quốc gia, khiến cho nhà xuất khẩu không nhận được tiền hàng, nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa. Nguyên nhân: do chiến tranh, bạo động, nợ nước ngoài, dự trữ ngoại hối, cấm vận….6 Rủi ro chính sách Là rủi ro xảy ra do chính sách của một quốc gia, một địa phương thay đổi làm phá sản dự án, kế hoạch ban đầu. Chẳng hạn việc thay đổi chính sách thuế , hạn ngạch đối với các mặt hàng xuất nhập khẩu khác với dự tính ban đầu dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh xuấ t nhâ ̣p khẩ u.
Nhà nhập khẩu có thể vì vậy mà mất khả năng thanh toán LC hoă ̣c trả nơ ̣ vay cho ngân hà ng.7 Rủi ro giá cả Đây là rủi ro về việc giá cả hàng hóa trên thị trường biến động có thể dẫn đến thua lỗ trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Nhà nhập khẩu có thể vì biến đô ̣ng giá bấ t lơ ̣i mà tìm cách từ chố i thanh toán LC.8 Rủi ro pháp lý Là rủi ro gây thiệt hại đối với một hay nhiều bên tham gia khi xảy ra tranh chấp, khiếu kiện trong thanh toán quốc tế. Nguyên nhân, do môi trường pháp lý và luật pháp của các nước khác nhau; Luật pháp quốc gia đôi khi có mâu thuẫn với thông lệ quốc tế.