chương 1, bài nghiên cứu đã đưa ra tổng quan các nghiên cứu về môi trường thu hút FDI trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã được thực hiện từ nhiều phương diện và góc độ khác nhau và đã có những giá trị thực tiễn nhất định. Các nghiên cứu ở nước ngoài tập trung vào các vấn đề thu hút FDI và những ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời đi sâu phân tích vấn đề tạo môi trường thu hút FDI để phát triển kinh tế cho các quốc gia. Đặc biệt, có một số nghiên cứu cụ thể về chính sách của chính phủ nhằm khuyến khích các nhà đầu tư và tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút FDI. Các nghiên cứu ở Việt Nam cũng tập trung vào vấn đề thu hút FDI và những ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và một số tác động khác, từ đó đề xuất các giải pháp về tạo môi trường nhằm thu hút FDI vào Việt Nam và một số địa phương.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng đã chỉ ra khoảng trống trong các bài nghiên cứu trước để từ đó đưa ra định hướng nghiên cứu cho bài. 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2. Đầu tư và nguồn vốn đầu tư 2. Đầu tư Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư là một tài sản hoặc vật phẩm có được với mục tiêu tạo ra thu nhập hoặc sự đánh giá cao.
Theo nghĩa kinh tế, đầu tư là việc mua hàng hóa không được tiêu thụ ngày nay nhưng được sử dụng trong tương lai để tạo ra sự giàu có. Về tài chính, khoản đầu tư là một tài sản tiền tệ được mua với ý tưởng rằng tài sản sẽ cung cấp thu nhập trong tương lai hoặc sau đó sẽ được bán với mức giá cao hơn cho lợi nhuận. Thuật ngữ "đầu tư" có thể ám chỉ đến bất kỳ cơ chế nào được sử dụng để tạo ra thu nhập trong tương lai. Theo nghĩa tài chính, điều này bao gồm việc mua trái phiếu, cổ phiếu hoặc bất động sản.
Ngoài ra, một tòa nhà được xây dựng hoặc cơ sở khác được sử dụng để sản xuất hàng hóa có thể được xem như là một khoản đầu tư. Việc sản xuất hàng hóa cần thiết để sản xuất hàng hóa khác cũng có thể được xem là đầu tư. Thực hiện hành động với hy vọng tăng doanh thu trong tương lai cũng có thể được coi là một khoản đầu tư. Ví dụ, khi chọn theo đuổi giáo dục bổ sung, mục tiêu thường là tăng kiến thức và nâng cao kỹ năng với hy vọng cuối cùng tạo ra thu nhập nhiều hơn.
Bùi Xuân Phong cho rằng đầu tư có nghĩa là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây: Một là, phải có vốn. Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
Hai là, thời gian đầu tư tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư. Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án. Ba là, lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội).
Lợi ích 14 kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng. Nguồn vốn đầu tư Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài,. nhằm để: tái sản xuất, các tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới.
• Tính chất của vốn đầu tư - Vốn đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản của sự phát triển và sinh lời bởi lẽ nhờ có vốn đầu tư mới có thể thực hiện được hoạt động, dự án, từ đó thu được nguồn tiền trong tương lai. Yếu tố tỷ suất sinh lời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư của các nhà đẩu tư. - Đầu tư đỏi hỏi một khối lượng vốn lớn, khối lượng vốn đầu tư lớn thường là tất yếu và khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vốn đầu tư có thể được cung cấp, tài trợ bởi nhiều nguồn.
- Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản phải trải qua một quá trình lao động rất dài mới có thể đưa vào sử dụng được, vì vậy thời gian hoàn vốn đối với sản phẩm xây dựng cơ bản mang tính lâu dài, đặc biệt và tổng hợp. - Đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn bởi đầu tư sinh lời sẽ đi kèm với rủi ro trong hoạt động, rủi ro có thể bắt nguồn từ bên trong hoặc bên ngoài. Những dự án, lĩnh vực có rủi ro lớn thường được ít các nhà đầu tư quan tâm hơn. • Phân loại vốn đầu tư Dựa vào nguồn gốc hình thành, bài nghiên cứu chia vốn đầu tư của nến kinh tế thành hai loại: 15 Hình 2.1: Hệ thống phân loại nguồn vốn đầu tư Nguồn vốn đầu tư Nguồn vốn Nguồn vốn trong nước nước ngoài Vốn của các Vốn ngân Vốn của tư Vốn đầu tư doanh Vốn đầu tư sách nhà nhân và của trực tiếp nghiệp quốc gián tiếp nước hộ gia đình (FDI) doanh Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn (1) Nguồn vốn trong nước: Vốn ngân sách nhà nước: gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích luỹ của nền kinh tế và được Nhà nước duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho đơn vị thực hiện các công trình thuộc kế hoạch Nhà nước. Vốn của các doanh nghiệp quốc doanh: Được hình thành từ lợi nhuận để lại của các doanh nghiệp để bổ sung cho vốn kinh doanh. Nguồn vốn này luôn có vai trò to lớn và tác dụng trực tiếp nhất đối với tốc độ tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm trong nước. Đây chính là nguồn vốn mà các chính sách kinh tế trong các giai đoạn tiếp theo.
Vốn của tư nhân và của hộ gia đình:Trong xu hướng khuyến khích đầu tư trong nước và cổ phần hoá những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ thì nguồn vốn đầu tư từ khu vực này ngày càng lớn về quy mô và tỷ trọng so với vốn đầu tư của khu vực Nhà nước. (2) Nguồn vốn nước ngoài: Vốn đầu tư nước ngoài là vốn của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào trong nước dưới các hình thức đầu tư gián tiếp hoặc đầu tư trực tiếp. + Vốn đầu tư gián tiếp: là vốn của các Chính Phủ, các tổ chức quốc tế như: Viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi với lãi suất thấp với thời hạn dài, kể cả vay theo hình thức thông thường. 16 + Vốn đầu tư trực tiếp (FDI): là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 2. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Foreign Direct Investment” và được hiểu là đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về FDI được trình bày bởi các tổ chức quốc tế và trong nước. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Có ba loại chính của FDI: Một là, vốn cổ phần là giá trị đầu tư của MNCs (công ty đa quốc gia) vào cổ phần của một doanh nghiệp ở nước ngoài.
Cổ phần vốn cổ phần từ 10% trở lên của cổ phần phổ thông hoặc quyền biểu quyết trong một doanh nghiệp được thành lập hoặc tương đương trong một doanh nghiệp chưa có tư cách pháp nhân thường được coi là ngưỡng kiểm soát tài sản. Danh mục này bao gồm cả sáp nhập và mua lại và đầu tư "greenfield" (việc tạo ra các cơ sở mới). Sáp nhập và mua lại là một nguồn quan trọng của FDI đối với các nước phát triển, mặc dù tầm quan trọng tương đối khác nhau đáng kể. Hai là, lợi nhuận được tái đầu tư là phần chia sẻ của MNCs trong các khoản thu nhập liên kết không phân phối dưới dạng cổ tức hoặc chuyển sang MNCs.
Lợi nhuận giữ lại của các chi nhánh được giả định là tái đầu tư vào chi nhánh. Điều này có thể chiếm đến 60% FDI ra nước ngoài ở các nước như Hoa Kỳ và Anh Quốc.