phần mở đầu, tài liệu tham khảo và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán. Chƣơng 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam qua thị trường chứng khoán từ năm 2000 đến nay Chƣơng 3: Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam qua thị trường chứng khoán trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 9 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ GIÁN TIẾP NƢỚC NGOÀI QUA THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Khái quát chung về đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm Vốn có thể chảy vào một quốc gia dưới nhiều hình thức khác nhau và có xu hướng tạo ra những ảnh hưởng khác nhau đối với nền kinh tế.
Thông thường, dòng vốn vào một quốc gia đang phát triển có ba hình thức: + Vốn đầu tư trực tiếp FDI: là nguồn vốn của khu vực tư nhân nước ngoài đầu tư vào một nước khác nhằm thu được lợi ích lâu dài hoặc giành quyền kiểm soát các doanh nghiệp ở các nước nhận đầu tư. FDI thường đầu tư cho phát triển sản xuất kèm theo nó là công nghệ, kĩ thuật, kinh nghiệm… + Vốn viện trợ phát triển chính thức ODA: là nguồn vốn viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi của các cơ quan chính thức nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế chuyển giao cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế và tăng cường phúc lợi. + Vốn đầu tư gián tiếp. “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư” [14, tr 1] Theo đó, đầu tư gián tiếp nước ngoài (thường được viết tắt là FPI, Foreign Portfolio Investment) là hình thức nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào một quốc gia thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt 10 z động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp. Khi thực hiện đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài không quan tâm đến quá trình sản xuất và kinh doanh thực tế mà chỉ quan tâm đến lợi tức (với một mức rủi ro nhất định) hoặc sự an toàn của những chứng khoán mà họ đầu tư vào (với một mức lợi tức nhất định). Những đặc trƣng cơ bản của đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài Đầu tư gián tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua một số hình thức cơ bản như: - Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác được phát hành tại một quốc gia nào đó. - Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính.
- Thông qua các định chế tài chính trung gian khác như ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, công ty tài chính. Với những hình thức biểu hiện như vậy, dòng vốn này có những đặc trưng riêng biệt, đó là: - Luồng đầu tư này được thực hiện không nhằm mục đích kiểm soát quá trình sản xuất và kinh doanh thực tế. Nhà đầu tư chỉ quan tâm đến việc lựa chọn những danh mục đầu tư đem lại cho họ tỷ suất lợi tức cao nhất với một mức rủi ro nhất định hoặc một mức tỷ suất lợi tức nhất định với một mức rủi ro thấp nhất. Đặc trưng này cho thấy sự khác biệt giữa FPI và FDI, bởi lẽ, với đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư muốn kiểm soát quá trình sản xuất và kinh doanh thực tế với kì vọng thu được lợi nhuận trong trung hạn và dài hạn - Vốn FPI có tính thanh khoản cao: Đầu tư gián tiếp chỉ quan tâm đến tỉ suất lợi nhuận hoặc độ an toàn của chứng khoán nên nó mang tính ngắn hạn, bất ổn định và dễ đảo ngược.
Nhà đầu tư gián tiếp dễ dàng bán lại những chứng khoán, cổ phiếu mà họ đang nắm giữ để đầu tư vào nơi khác có tỉ suất 11 z lợi nhuận cao hơn hoặc ít rủi ro hơn. Tính thanh khoản cao làm cho hình thức đầu tư này mang tính ngắn hạn, dòng vốn được đưa vào nhanh và rút ra cũng nhanh, tính theo phiên giao dịch, theo ngày tùy vào động thái nóng lạnh của giá cổ phiếu, giá trái phiếu trên thị trường chứng khoán hay chính sách quản lý của nước bản địa và một số yếu tố khác. Do vậy, nguồn vốn này có tính đầu cơ cao hơn tính đầu tư. Ngược lại, FDI mang tính dài hạn, ổn định và khó bị đảo ngược.
- Quy mô của dòng vốn vào nước tiếp nhận đầu tư có thể rất lớn và mức độ rủi ro có thể rất cao, nó mang đến những tác động lớn, trên nhiều mặt đối với nước tiếp nhận. - Hình thức đầu tư này thực hiện không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản, vật chất, công nghệ, đào tạo lao động, kinh nghiệm quản lý vì đây là hình thức đầu tư tài chính thuần túy - Động thái dòng vốn chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của các nhân tố như bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao, môi trường pháp lý thuận lợi), nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, mức độ tự do hóa, sức cạnh tranh của môi trường đầu tư trong nước, sự phát triển của hệ thống tiền tệ, của các thể chế trên thị trường tại nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, FPI chịu ảnh hưởng mạnh hơn từ phía các nhân tố: sự phát triển, độ mở cửa thị trường chứng khoán, chất lượng các trái phiếu, cổ phiếu do doanh nghiệp và nhà nước phát hành, sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (Các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính. Đặc biệt, dòng vốn gián tiếp nước ngoài tỉ lệ thuận và theo cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động hiệu quả trong nước.
12 z - Về lợi ích đem lại, dòng vốn gián tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính. Hơn nữa, không phải bất kì hình thức đầu tư gián tiếp nào cũng đem lại nguồn vốn mới hay tạo ra những đầu tư mới. - Trong nhiều trường hợp sẽ không có sự phân biệt rõ ràng giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp mà tồn tại giao thoa và liên kết giữa chúng. Như vậy, đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp có liên kết chặt chẽ với nhau với việc hình thức đầu tư này hoạt động tiếp theo sau hình thức đầu tư kia trong một giới hạn nhất định.
Những nhân tố tác động tới hình thức đầu tư này cũng sẽ tác động tới hình thức đầu tư kia. Mặc dù các cách tiếp cận chính sách có thể tính đến sự khác biệt lớn giữa chúng nhưng những chính sách tự do hoá một hình thức đầu tư còn lại sẽ có tác động tiêu cực tới cả hai. Nhân tố tác động đến thu hút vốn đầu tƣ gián tiếp 1.1 Sự phát triển của thị trường chứng khoán Sự phát triển kinh tế của quốc gia tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, do đó là nhân tố có tác động lớn đến quá trình thu hút vốn FPI. Dòng vốn gián tiếp nước ngoài sẽ chảy mạnh vào một quốc gia khi quốc gia đó có nền kinh tế phát triển với những doanh nghiệp mạnh, hoạt động hiệu quả, hứa hẹn những cơ hội đầu tư với tỉ suất lợi nhuận tốt.
Thị trường chứng khoán được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế, thể hiện sức khỏe về kinh tế của một quốc gia. Do vậy, thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh, phát triển với những hàng hóa tốt là nhân tố thể hiện sức hấp dẫn về đầu tư của quốc gia. Tại các nước phát triển, TTCK đã được hình thành từ rất lâu và là một kênh quan trọng để huy động vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế. Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu vốn cho đầu tư rất cao mà nguồn đầu tư trực tiếp lại có hạn thì đây là một kênh huy động vốn đầu tư gián tiếp có tiềm năng cao.
13 z Một trong những chính sách thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển là chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp. Tuy nó không có tác động trực tiếp tới việc thu hút vốn FPI nhưng nó góp phần làm phong phú thêm hàng hóa và làm cho quy mô của thị trường ngày càng phát triển, từ đó tạo sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tạo ra hàng hóa cho thị trường chứng khoán thông qua việc mua bán cổ phần cho các thành phần kinh tế trên cơ sở chuyển đổi từ một sở hữu sang nhiều chủ sở hữu khác nhau, trong đó có cả các nhà đầu tư nước ngoài. Ngược lại, thị trường chứng khoán cũng tạo cơ sở để luân chuyển các chứng khoán giữa các nhà đầu tư, tạo động lực kích thích quá trình cổ phần hóa phát triển.
Công ty cổ phần và thị trường chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và làm tiền đề thúc đẩy nhau cùng phát triển. Thị trường chứng khoán với vai trò là nhân tố thu hút vốn FPI sẽ được tiếp tục xem xét ở phần nội dung tiếp theo của bài viết. Chính sách liên quan đến thu hút vốn đầu tư gián tiếp * Chính sách tài chính-tiền tệ Chế độ tỷ giá và hệ thống các công cụ can thiệp thích hợp là hai nội dung quan trọng nhất của chính sách tỷ giá thuộc chính sách tài chính – tiền tệ. Nói cách khác, chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ dùng để tác động vào cung – cầu ngoại tệ trên thị trường từ đó giúp Chính phủ điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới mục tiêu cần thiết.