phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương: 12 Chƣơng 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Sắc thái văn hóa dân tộc trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm từ phương diện nội dung Chƣơng 3: Sắc thái văn hóa dân tộc trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm từ phương diện nghệ thuật 13 NỘI DUNG Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Ở chương này, luận văn hướng đến giải quyết một số khái niệm, quan niệm về văn học, văn hóa; mối quan hệ giữa văn hóa với văn học; những tiền đề làm xuất hiện thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm và khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tập “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” 1. Giới thuyết khái niệm, quan niệm về văn hóa và văn học 1. Quan niệm về “văn hóa” Theo tác giả Trần Ngọc Thêm: “Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm văn hoá bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, “văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…).
Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…) Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [47: tr. 14 Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise” [57].
Quan niệm về văn học “Văn học” theo cách nói chung nhất, là bất kỳ tác phẩm nào bằng văn bản. Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, thì văn học là dạng văn bản được coi là một hình thức nghệ thuật, hoặc bất kỳ một bài viết nào được coi là có giá trị nghệ thuật hoặc trí tuệ, thường là do cách thức triển khai ngôn ngữ theo những cách khác với cách sử dụng bình thường. Trong các định nghĩa hiện đại hơn, văn học bao hàm cả các văn bản được nói ra hoặc được hát lên (văn học truyền miệng). Sự phát triển trong công nghệ in ấn đã cho phép phân phối và phát triển các tác phẩm chữ viết, và tạo ra loại văn học điện tử.
Văn học có thể phân loại thành: hư cấu hoặc phi hư cấu (theo nội dung), và thơ hoặc văn xuôi (theo hình thức). Thể loại văn xuôi có thể phân loại tiếp thành tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch bản. Các tác phẩm văn học có thể được phân loại theo từng giai đoạn lịch sử được nhắc đến, hoặc một số thể loại nội dung hoặc hành văn đặc thù (bi kịch, hài kịch, lãng mạn, gợi tình,. Chúng tôi sẽ sử dụng linh hoạt các quan niệm này về “văn hóa”, văn học để tìm hiểu những biểu hiện của các sắc thái văn hóa qua mối quan hệ, đồng hiện với tác phẩm văn học – Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Mối quan hệ giữa văn hóa với văn chƣơng Giữa văn chương và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau, nên việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một hướng đi cần 15 thiết và có triển vọng. Những yếu tố văn hoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm. Nó cũng có thể góp phần lý giải tâm lý sáng tác, thị hiếu độc giả và con đường phát triển nói chung của văn học bằng ngôn từ nghệ thuật. Văn học là nền tảng cho văn hóa Văn học là nền tảng của văn hóa thể hiện ở việc phản ánh các hệ thống giá trị về con người, cuộc xung đột của các giá trị người nhằm khẳng định hệ thống giá trị người phù hợp với xu thế thời đại.
Chức năng của văn học được phân hoá thành các phương diện cụ thể như chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ, chức năng giải trí, chức năng giao tiếp. Các chức năng trên có giá trị tổ chức đời sống xã hội và cá nhân, hình thành các quy phạm, các chuẩn mực của hành vi con người. Giá trị nhận thức là giá trị khám phá chân lí, phát hiện sự thật, giá trị hoạt động cảm xúc, tình cảm, lí tính con người. Giá trị nhận thức chủ yếu thể hiện ở triết học, khoa học, nhưng văn học cũng có.
Đối với văn học nghệ thuật giá trị nhận thức thể hiện ở nhận thức nhân sinh và xã hội, nhận thức quan hệ giữa người và người, người và tự nhiên, người với chính mình; nhận thức nhân sinh bao gồm từ phương thức sinh hoạt, phong tục tập quán, lễ nghi, vũ khí, vật dụng, kĩ thuật chế tác, phương thức tư duy, tinh thần, tư tưởng, tình cảm, nghị lực, ý chí. Giá trị tình cảm là giá trị thẩm mĩ, thoả mãn, làm phong phú và mở rộng không gian đời sống tình cảm của con người, gắn liền với cảm xúc của cơ thể, những điều mà ngũ quan và toàn bộ thân thể cảm thấy. Giá trị quy phạm là các tư tưởng hướng dẫn hành vi con người trong các quan hệ người với người, người với thiên nhiên, người với bản thân nó. Giá trị quy phạm thể hiện ở chuẩn mực luân lí, đạo đức, cái thiện, cái đẹp.
Con người sống giữa xã hội, thiên nhiên, chạy theo mục đích, lợi ích của mình thì cũng phải tính đến mục đích, lợi ích của cá nhân và tập thể khác, nghĩ đến mọi vật vô tri vô giác trên đời. Văn học có chức năng đi tìm các mối quan hệ 16 đó, đề nghị những quy phạm hành vi cho một cuộc sống bền vững, lâu dài cho mọi người, chỉ ra những hạn chế, xác lập những tiêu chuẩn giữa thiện, ác, thị phi, nên và không nên, hợp lí và không hợp lí thể hiện trong các biểu hiện đa dạng, cụ thể nhất của đời sống con người. Văn học còn có chức năng đổi mới tư duy, thăm dò các hình thức mới, thể loại mới và khả năng biểu đạt mới cho văn học. Các tác phẩm tiền phong thường thực hiện chức năng này và có giá trị đổi mới văn hoá nghệ thuật của bản thân văn học.
Về hình thức nghệ thuật giá trị văn hoá thể hiện ở hình thức biểu hiện: ngôn ngữ, nghệ thuật, thẩm mĩ, loại hình, thể loại, tu từ. Văn học mỗi dân tộc có hệ thống thể loại văn học, hệ thống thi pháp, hệ thống biểu tượng đặc trưng. Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào ta đều có thể nhận thấy giá trị văn hoá của nó thể hiện ở hai phương diện đó. Văn học có giá trị sử dụng như là sản phẩm văn hoá.
Giá trị ấy gắn liền với ngữ cảnh lịch sử, thời đại, xã hội. Chẳng hạn ngôn ngữ là một thành tố của văn hoá dân tộc, nhưng phải là tác phẩm văn học xuất chúng thì phẩm chất của ngôn ngữ dân tộc mới được thể hiện đầy đủ và sáng tạo, khi đó mới nói đến giá trị văn hoá ngôn ngữ của nó. Nền tảng văn hoá của văn học, ngoài nghệ thuật, thẩm mĩ còn bao gồm các phương diện xã hội học, sử học, chính trị học, đạo đức học, triết học, tôn giáo, ngôn ngữ…Nền tảng văn hoá của văn học biểu hiện qua lăng kính của văn học sẽ là vũ trụ quan, nhân sinh quan, lí tưởng xã hội, lí tưởng nhân sinh, lí tưởng thẩm mĩ, quan niệm về con người, về văn học, ngôn ngữ… 1. Văn học là một bộ phận của văn hóa Văn học là một bộ phận của văn hóa.
Bởi muốn truyền tải, phản ánh thông tin liên quan tới các vấn đề trong đời sống xã hội thì cần phải thông qua hệ thống văn hóa. Từ đây, có thể thấy văn học nếu có chức năng phản ánh hiện thực thì cũng không thể phản ánh trực tiếp được mà chỉ có thể phản ánh thông qua "lăng kính" văn hóa, thông qua "bộ lọc" của các giá trị văn hóa. Và cũng nhờ thế mà tạo cho văn học một lối phản ánh đặc trưng, như người ta 17 thường nói, phản ánh có nghệ thuật. Có thể nói, văn học sẽ tác động đến nhận thức của con người thông qua việc phản ánh văn hóa, từ đó giúp con người thay đổi nhận thức và đi đến hành động đúng đắn Văn học là một bộ phận của văn hóa và có mối quan hệ với xã hội thông qua văn hóa.
Nếu cách tiếp cận hình thái chỉ lấy một mặt nào đó trong đời sống làm cơ sở, thì cách tiếp cận văn minh lấy con người tổng thể với muôn mặt hành động và đời sống của nó làm cơ sở. Nếu ở cách tiếp cận hình thái, văn hóa chỉ được coi là một bộ phận của đời sống xã hội, thì với cách tiếp cận văn minh, văn hóa không thể chỉ được xem xét trong tổng thể của nó, mà còn được đặt trong tổng thể đời sống con người và xã hội. Văn hóa, bởi thế, được coi cùng cấp độ với văn minh.