CHƯƠNG I. Tình hình ngành thép trong những năm gần đây 1. Tình hình trong nước Trong năm 2018, theo báo cáo tổng kết mới nhất của VSA (Hiệp hội thép Việt Nam) về tình hình ngành thép Việt Nam [1], [2] trong việc sản xuất các sản phẩm thép đạt 2.987 tấn, giảm 5,1% so với năm trước, nhưng tăng 1,6% với cùng kỳ 2017, trong đó sản lượng thép cuộn cán nóng và thép xây dựng tăng lần lượt là 94% & 3% so với tháng 12/2017. Năm 2017, thị trường Mỹ chiếm 11% tổng xuất khẩu thép của Việt Nam.
Chính sách bảo hộ ngành thép của Mỹ sẽ không ảnh hưởng trực tiếp trọng yếu tới ngành thép nước ta. Tuy nhiên, những ảnh hưởng gián tiếp do lượng thép xuất khẩu từ các quốc gia và khu vực khác chuyển hướng có thể sẽ tác động tiêu cực tới ngành thép Việt Nam – đặc biệt từ Hàn Quốc, Trung Quốc hoặc Nhật Bản. Chính sách thuế tự vệ của Việt Nam sẽ giảm hạn chế bớt dòng thép từ các quốc gia và khu vực khác chuyển hướng. Trong khoảng thời gian còn hiệu lực, sự hoạt động của dự án Formosa Hà Tĩnh và Dung Quất Quảng Ngãi được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam giảm bớt sự phụ thuộc vào thép nhập khẩu, do sản phẩm chính của hai dự án này là thép HRC (Thép cuộn cán nóng) – sản phẩm nước ta đang phải nhập khẩu gần như toàn bộ.
Trong 3 năm trở lại đây, loại sản phẩm thép nhập khẩu nhiều nhất của Việt Nam là HRC (luôn chiếm từ 65-70% tổng lượng thép nhập khẩu). Trước năm 2016, đây là loại mặt hàng mà Việt Nam chưa sản xuất được và phải nhập khẩu gần như toàn bộ. Cho tới thời điểm hiện tại, Việt Nam đang có 2 dự án sản xuất thép HRC là: Formosa Hà Tĩnh ( hoạt động từ năm 2017) và Dung Quất-Quảng Ngãi ( dự kiến hoạt động cuối năm 2019). Tình hình trên thế giới Theo thống kê khảo sát của VSA, [3].
Từ những năm 2000 đến nay, ngành thép thế giới nhìn chung đã bước vào thời kỳ bão hòa. Quy mô thị trường trong giai đoạn này đã phát triển mạnh, dẫn đến dư thừa nguồn cung ở nhiều nơi. Trong giai đoạn này, Trung Quốc nổi lên như quốc gia chi phối thị trường thép toàn cầu, chiếm khoảng 50% thị phần sản lượng thép thế giới từ năm 2008 đến nay. Lê Quang Hải, Trịnh Thị Lâm 12 Đồ án tốt nghiệp Trong năm 2017, sản lượng thép cả thế giới là 1,68 tỷ tấn nhưng nhu cầu chỉ khoảng 1,5 tỷ tấn, dư thừa hơn 120 triệu tấn thép.
WSA (Hiệp hội thép thế giới) ước tính công suất thiết kế ngành thép thế giới trong 2017 lên đến 2,1 – 2,2 tỷ tấn nhưng chỉ sản xuất 1,7 tỷ tấn (công suất trung bình thực tế toàn thế giới chỉ đạt 70% trong năm 2017, mức tương đương trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế) do dư thừa nguồn cung thép đang diễn ra. Năng lực sản xuất toàn ngành liên tục tăng trong khi hiệu suất sử dụng nhà máy luôn dưới mức 75% từ năm 2012. Trung Quốc là quốc gia sản xuát thép lớn nhất thế giới, chiếm gần 50% sản lượng sản xuất toàn thế giới. Trong giai đoạn 2010 đến nay, sự phát triển của ngành thép chuyển dần từ các quốc gia đã phát triển ( Bắc Mỹ, châu Âu ) sang các nước đang phát triển là Trung Quốc, Ấn Độ và hiện nay là các quốc gia Đông Nam Á.
Từ năm 2015 đến 2017, tăng trưởng cả về nhu cầu và sản lượng sản xuất thép đã giảm mạnh lần lượt 6,2% xuống 2,5% và từ 6,8% xuống 2,1%. Nguyên nhân chính làm ngành thép thế giới suy giảm là do sự chững lại trong nền kinh tế của thép Trung Quốc khiến nhu cầu thép không tăng trưởng và sự đẩy mạnh xuất khẩu của các cường quốc thép do nhu cầu trong nước suy giảm ( Nhật Bản, Hàn Quốc xuất khẩu tới 30-40% sản lượng sản xuất) ảnh hưởng tới các ngành thép của các quốc gia khác. Dự báo về tình hình ngành thép Việt Nam Mặc dù tình hình ngành thép trên thế giới có nhiều biến động, nhưng chỉ tác động một phần tới thị trường Việt Nam. Với những chính sách can thiệp của chính phủ vào ngành thép đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành phát triển, cùng với đó là thị trường bất động sản trong nước và khu vực đang ấm dần lên ta có thể dự báo được tình hình cơ bản của ngành thép trong năm 2019.
Với năng lực sản xuất hiện tại, Bộ Công Thương đánh giá ngành thép Việt Nam hoàn toàn có khả năng đáp ứng 100% nhu cầu phôi thép, thép xây dựng và thép cán cuộn cho nhu cầu trong nước (khoảng 7-8 triệu tấn/năm) và đưa ra dự báo kế hoạch năm 2019 theo (bảng 1. Trong đó, dự kiến lượng sắt thép thô đạt 5590,9 nghìn tấn, tăng 16,6% so với năm 2018; sản lượng thép cán đạt 5840,3 nghìn tấn, tăng 18% so với năm 2018. Sản xuất các sản phẩm thép đạt hơn 22 triệu tấn năm 2019 tăng 23,5% so với năm trước đó; bán hàng sản phẩm thép các loại đạt 18,92 triệu tấn, tăng 20,7%. Trong đó, tăng mạnh nhất là tôn mạ và màu, ống thép và thép xây dựng, riêng CRC (Thép cuộn cán nguội) giảm nhẹ.
Lê Quang Hải, Trịnh Thị Lâm 13 Đồ án tốt nghiệp Năm 2018, ngành thép đã đạt được kết quả trong việc giảm nhập khẩu và tăng xuất khẩu. Nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm thép năm 2018 ước tính đạt 19,918 triệu tấn, giảm 14,2%, trong đó thép thành phẩm nhập khẩu đạt 14,985 triệu tấn, giảm 14. Xuất khẩu của ngành thép trong năm 2018 đạt 5,509 triệu tấn, tăng 28,5% so với năm 2017. Tổng kim ngạch đạt 3,643 tỷ USD, tăng 45,4%.
Trong đó riêng xuất khẩu thép đạt 3,148 tỷ USD, tăng 25,7%. Các thị trường xuất khẩu chính của các sản phẩm thép Việt Nam trong năm qua chủ yếu là các nước trong khối ASEAN, chiếm 59,3%, Hoa Kỳ, các nước Liên minh châu Âu, Hàn Quốc, Ấn Độ, Đài Loan và Australia. Bên cạnh những thuận lợi, trong năm 2018 ngành thép cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt phải áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ sản xuất trong nước cũng như kháng kiện các vụ kiện của nước ngoài như Hoa Kỳ, Australia, Indinesia, Malaysia, Thái Lan và Ấn Độ đối với sản phẩm thép xuất khẩu của Việt Nam. Trong năm 2019, ngành thép Việt Nam dự báo ghi nhận sản xuất 7500 tấn gang, 14000 tấn phôi thép, hơn 26000 tấn sản phẩm thép cuối cùng bao gồm thép xây dựng, thép cuộn cán nóng, thép lá cuộn cán nguội, thép ống hàn và tôn mạ và sơn phủ màu.
Có được sự tăng trưởng này, đại diện Hiệp hội Thép Việt Nam lý giải nhờ vào mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5 - 6,7% của Chính phủ, nhiều dự án hạ tầng, xây dựng, bất động sản sẽ được triển khai trong năm 2019. Ngành Thép Việt Nam sẽ ghi nhận nhiều dự án được đưa vào hoạt động trong năm 2019. Cụ thể, Tập đoàn Hòa Phát sẽ đưa lò cao giai đoạn 1 tại tỉnh Quảng Ngãi với công suất 2 triệu tấn/năm vào hoạt động, lò cao số 2 của Formosa Hà Tĩnh với công suất 3,8 triệu tấn/năm cũng được đưa vào hoạt động trong năm nay. Trong những năm tới, nước ta vẫn trong giai đoạn công nghiệp hóa theo chiến lược dài hạn đến năm 2020 của Chính phủ do vậy tốc độ tăng trưởng dự báo vẫn đạt trung bình 12 %/năm và đạt khoảng 23 triệu tấn.
Trong giai đoạn 2020 – 2025, tốc độ tăng trưởng có thể chậm lại do tình hình xã hội đã dần tương đối ổn định sản lượng tiêu thụ có thể giữ mức cân đối. Tuy nhiên, sản lượng thép thành phẩm có thể tăng do có nhiều nhà máy cán thép mới đi vào vào hoạt động. Do vậy sản lượng thép thành phẩm có thể dự kiến đạt 49 triệu tấn. Lê Quang Hải, Trịnh Thị Lâm 14 Đồ án tốt nghiệp Bảng 1.
Dự báo tình hình sản xuất ngành thép trong những năm tới Sản phẩm Giai đoạn 2019 - 2020 Giai đoạn 2020 – 2025 Gang 17 triệu 28 triệu Thép phôi 20 triệu 40 triệu Thép thành phẩm 23 triệu 49 triệu Để đạt được mục tiêu trên, các doanh nghiệp ngành thép cần tiếp tục nỗ lực đổi mới công nghệ, tiết kiệm chi phí nhằm nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh để có thể vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay. Các doanh nghiệp cần theo dõi sát diễn biến thị trường, lập kế hoạch linh hoạt từng tháng, quý, tập trung quản lý đầu ra sản phẩm thông qua việc xây dựng hệ thống phân phối, tăng cường quảng bá thương hiệu. Những tiến bộ kỹ thuật ứng dụng trong cán hình Các sản phẩm thép trong cán hình được sử dụng rất nhiều trong ngành xây dựng, và đặc biệt nhiều đối với chủng loại thép cuộn Ø6, Ø8. và thép thanh D10, D16, D22., Trong đó sản phẩm thép D16 được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực xây dựng, các công trình công nghiệp, công trình dân dụng.
, không kể đến sự đóng góp của các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Việc áp dụng này giúp nâng cao năng suất, tiết kiệm năng lượng, cải thiện môi trường nâng cao chất lượng sống. Về cải tiến thiết bị: các thiết bị được thay thế để phù hợp với sự thay đổi công nghệ. Ví dụ như sự thay đổi cơ cấu lò nung.
Các lò dạng đáy bước có tốc độ nung cao, công suất lớn, sử dụng bộ trao đổi nhiệt - khí từ lò cao làm tiết kiệm nhiệt, năng lượng và thời gian. Bổ sung thêm hệ thống lò gia nhiệt đặt ở vị trí phôi ra khỏi lò nung, nhằm gia nhiệt thêm cho phôi thép lên nhiệt độ cao để tăng tốc độ cán mà phôi vẫn đảm bảo chất lượng, không bị nhiều xỉ phôi, tiết kiệm được chi phí nung phôi. Sự thay đổi của động cơ: các động cơ hơi nước cồng kềnh bị loại bỏ, thay vào đó là động cơ điện có công suất lớn hàng ngàn kW. Các cơ cấu thiết bị dẫn hướng cũng thay đổi phù hợp với khả năng tự động cao.
Trong cán tấm, để tăng độ chính xác cho sản phẩm cũng như nâng cao độ bền và tuổi thọ cho các thiết bị, thay vì chỉ dùng giá 2 trục đơn giản như trước có thể dùng giá nhiều trục. Lê Quang Hải, Trịnh Thị Lâm 15 Đồ án tốt nghiệp Hệ thống lỗ hình cũng được cải tiến: từ hệ thống hộp chữ nhật – hộp vuông, hay ovan bằng, ovan cạnh,… nay hầu hết sử dụng hệ thống lỗ hình ovan tròn từ giá K3 hoặc K4 - Ksp cho cán hình, hệ thống lỗ hình cán chẻ…. Tất cả những sự thay đổi này nhằm tăng năng suất, hạn chế sự cố hơn.