CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊM CỨU 1. Tổng quan về nền công nghiệp ô tô hiện nay. Trên thế giới. Sáu tháng đầu năm 2019, tất cả các thị trường ô tô lớn trên thế giới đều chứng kiến sự sụt giảm doanh số chóng mặt.
Đáng chú ý, thị trường Trung Quốc – nơi vốn là đầu tàu tăng trưởng của nền công nghiệp ô tô thế giới đã ghi nhận mức tăng trưởng âm 14%. Doanh số bán xe ở tất cả các thị trường ô tô lớn đều sụt giảm, ngoại trừ thị trường Brazil với doanh số tăng 11%. Doanh số thị trường xe hơi Nhật Bản đi theo đường ngang trong khi thị trường Mỹ và Nga tăng trưởng âm 2%. Thị trường liên minh châu Âu giảm 3% trong khi vẫn giữ được mức tăng trưởng khá.
Tại Ấn Độ, doanh số xe mới trong 6 tháng đầu năm 2019 giảm 0,1% trong khi thị trường Trung Quốc vẫn là thị trường ô tô lớn nhất thế giới dù sụt giảm 14%.1: Doanh số bán xe tại các thị trường lớn trên thế giới trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2019 (theo nghiên cứu của Hiệp hội công nghiệp ô tô Đức - VDA). Tăng trưởng Tăng trưởng Doanh số Doanh số 6 so với cùng so với cùng Thị trường tháng 6 tháng đầu kì năm kì năm năm 2019 năm trước trước Châu Âu 1.900 -14,0% 2 Brazil cũng là thị trường lớn duy nhất có mức tăng trưởng dương trong nửa đầu năm 2019. Doanh số xe mới của Brazil tăng 11% trong 6 tháng đầu năm 2019. Doanh số xe hơi Nhật Bản đi ngang trong nửa đầu năm 2019, thậm chí giảm 0,3% xuống còn 2.700 xe trong 6 tháng đầu năm.
Doanh số bán xe tại Hoa Kỳ giảm 1,9% trong tháng 6 năm 2019 lẫn cả 6 tháng đầu năm. Tháng 6/2019, doanh số tại Hoa Kỳ cao hơn 1 chút so với EU với 1. Thị trường xe tải cỡ nhỏ tại Mỹ tăng trưởng 1% trong khi doanh số thị trường xe truyền thống giảm 9%. Trung Quốc vẫn là thị trường ô tô lớn nhất trên toàn thế giới dù có mức tăng trưởng âm 7,1% trong tháng 6 năm nay.
Doanh số 6 tháng đầu năm của thị trường này đạt 9,9 triệu chiếc, giảm 14% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân của sự lao dốc này phần lớn là do chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Các chuyên gia nhận định thị trường Trung Quốc sẽ tăng trưởng âm 4% vào cuối năm 2019. Ở Châu Á, cùng nhìn lại quá khứ, trước khi Thái Lan trở thành quốc gia sản xuất ô tô lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á như hiện nay, chính phủ nước này đã lựa chọn chính sách tập trung phát triển ngành công nghiệp sản xuất, gia công linh kiện và lắp ráp ngay từ đầu, kết hợp với những chính sách gọng kiềm siết chặt đối với xe nhập khẩu; trong khi Malaysia lại chọn việc đầu tư thương hiệu quốc gia với những chiếc xe mang tên Proton hay Perodua đã đem lại niềm hãnh diện cho người dân sở tại.
Mặc dù giờ đây đã có nhiều thay đổi về sở hữu khi Proton có cổ phần lớn của hãng xe Trung Quốc Zhejiang Geely, còn Perodua có đến 35% cổ phần của Toyota; sự tăng trưởng của cả 2 mẫu xe trên thị trường Malaysia là một minh chứng rõ ràng cho xu hướng lựa chọn xe chất lượng tốt nhưng giá cả phải chăng của người tiêu dùng, không phân biệt đó là thương hiệu nước ngoài hay nội địa. Riêng mẫu xe Perodua từng lập kỷ lục với doanh số 3 207.100 xe trong năm 2016 chiếm 35% thị phần của thị trường ô tô tại quốc gia này. Những thành công từ Thái Lan và Malaysia chắc chắn đã có ảnh hưởng đến chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong việc siết chặt với xe nhập khẩu cũng như sự nỗ lực ra mắt một thương hiệu ô tô Made in Vietnam như vinfast. Bước sang giai đoạn 4.0 ngành công nghệ ô tô sẽ phát triển theo bốn xu hướng chính, gồm tự động hóa, kết nối, xe điện và chia sẻ xe như một dịch vụ.
Nếu trước đây, các yếu tố quyết định sự khác biệt của những chiếc xe là động cơ, hộp số, bộ dẫn động, mức tiêu thụ nhiên liệu… thì ngày nay, ô tô giống như một chiếc máy tính, phần mềm và điện thoại thay thế nhiều chức năng của các yếu tố khoa học, nhiên liệu, sự tham gia con người. Ngành công nghiệp ô tô luôn biến đổi không ngừng, những công nghệ an toàn hay tiện ích trước đây được coi là xa xỉ thì nay dần trở thành những tiêu chuẩn và ngành công nghiệp ô tô vẫn tiếp tục giữ một vai trò chủ chốt trong nền kinh tế thế giới. Tại việt nam. Dây chuyền sản xuất ô tô.
4 Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được bắt đầu vào năm 1991 với sự xuất hiện của 2 công ty ô tô có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là Mekong và VMC. Sau hơn 19 năm hình thành và phát triển đến nay đã có rất nhiều doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô ra đời. Trong những tháng cuối năm, khi thị trường đang bước vào giai đoạn cao điểm bán hàng sau nhiều tháng bấp bênh, sự ra mắt rầm rộ của thương hiệu ô tô du lịch Việt Nam đầu tiên mang tên VinFast trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm của xã hội. Phát triển muộn hơn so với các nước trong khu vực đến 30 năm, nền công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trên con đường phát triển.
những cái tên tiên phong trong công cuộc xây dựng là VMC (Công ty Ô tô Hòa Bình) hợp tác lắp ráp và phân phối xe cho các thương hiệu BMW, Mazda và Kia cùng với Mekong lắp ráp xe Fiat, Ssangyong. Tuy nhiên, sau cuộc đổ bộ của các tên tuổi như Toyota, Honda, Daihatsu, Ford và Mercedes, các doanh nghiệp trong nước đã yếu thế hẳn dù Chính phủ đã có những chiến lược hỗ trợ rất rõ ràng và kiên quyết như đánh thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc rất cao, tạo điều kiện phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, vật tư đầu vào. Năm 2018 là năm đánh dấu sự biến hóa mạnh mẽ của ngành công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam. Trong bối cảnh nguy cơ thị trường trong nước tràn ngập xe nhập khẩu của khu vực, bởi thuế suất nhập khẩu chỉ bằng 0% thì sự xuất hiện của Nghị định số 116/2017/NĐ-CP được ban hành vào ngày 17/10/2017 được xem như là một cú hích giờ chót đem về nhiều lợi thế cho dòng xe sản xuất, lắp ráp nội địa, khi có nhiều rào cản mới đối với xe nhập khẩu.
Tiếp theo đó, Quyết định 589/QĐ-TTg được ban hành với nội dung phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành công nghiệp giai đoạn 2018 - 2020 xét đến 2025 bao gồm: Khuyến khích các doanh nghiệp lớn đầu tư phát triển ngành 5 công nghiệp ô tô, không phân biệt doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Từ những văn bản này, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự quyết liệt của Chính phủ trong bối cảnh Việt Nam đang có nguy cơ cao trở thành nơi tiêu thụ cho các trung tâm sản xuất được đặt tại Thái Lan và Indonesia. Hiện tại, những doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa như Công ty CP ô tô. Trường Hải (THACO), Công ty CP Hyundai Thành Công cùng với các doanh nghiệp như Toyota, Ford, Honda, Mitsubishi đã đưa tổng năng lực sản xuất – lắp ráp ô tô nước ta vào khoảng 600 ngàn xe/năm bao gồm hầu hết các chủng loại xe con, xe tải và xe khách, trong đó một số chủng loại xe đã đạt được tỷ lệ nội địa tương đối cao như xe tải đến 7 tấn đạt 55%, xe khách từ 24 chỗ trở lên đạt từ 45 – 55%, đưa đến cơ hội Việt Nam đã có thể xuất khẩu sản phẩm ô tô sang các thị trường như Lào, Campuchia, Myanmar, Trung Mỹ… Sản lượng và tỷ lệ xe sản xuất lắp ráp trong nước kể từ năm 2016 đã vượt dự báo nêu trong Chiến lược phát triển ngành ô tô dành cho năm 2020.
Vì vậy, một chiến lược mới phải được nhanh chóng hình thành để phù hợp với sự tăng trưởng nhanh của ngành ô tô Việt Nam. Và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang được xem là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam có thể tạo bước phát triển mang tính đột phá theo 4 xu hướng chính gồm: tự động hóa, kết nối, xe điện và chia sẻ xe như một dịch vụ. Sự ra mắt thành công bước đầu của thương hiệu ô tô VinFast cùng với sự tăng trưởng ngày càng mạnh mẽ của các doanh nghiệp trong nước như THACO hay Hyundai Thành Công và những nỗ lực tham gia đầu tư từ các công ty công nghệ sẽ là những bước tiên phong đáng tin cậy để hướng đi của ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam ngày càng rộng mở hơn. Từ đây có thể thấy, nếu như quan điểm xây dựng công nghiệp ô tô Việt Nam thủa sơ khai là đi từ sản xuất phụ tùng cơ bản rồi nâng dần lên sản xuất ô tô đã không có tính thực tiễn thì nay đã được thay thế bởi có đường đi từ lắp 6 ráp ô tô rồi tiến hành từng bước nội địa hóa sản xuất phụ tùng như các nước ASEAN và Châu Á đã trải qua.
Như vậy lịch sử hình thành ngành công nghệ ô tô Việt Nam đã cho thấy sau bao năm chúng ta dò dẫm con đường phát triển ngành giờ đây con đường đó đã hiện rõ hơn và hứa hẹn một triển vọng sáng lạng trong một tương lai không xa. Tổng quan về công tác bảo dưỡng, sửa chữa ô tô tại việt nam hiện nay. Theo thông tư số: 10/2009/TT-BGTVT về các hạng mục kiểm tra và phương pháp kiểm tra trong công tác bảo dưỡng và sửa chữa ô tô: a) Kiểm tra nhận dạng tổng quát: Thiết bị bảo vệ thành bên và Quan sát, kết hợp dùng tay lay lắc. phía sau Móc kéo Quan sát, kết hợp dùng tay lay lắc.
Thân vỏ, buồng lái, thùng hàng Tình trạng chung Quan sát. Dầm ngang, dầm dọc Quan sát, kết hợp dùng tay lay lắc khi xe trên hầm hoặc thiết bị nâng. Cửa và tay nắm cửa Đóng, mở cửa và quan sát, kết hợp dùng tay lay lắc. Cơ cấu khoá, mở buồng lái; Đóng, mở cabin, thùng xe, khoang hành lý … và thùng xe; khoang hành lý; quan sát, kết hợp dùng tay lay lắc.
khoá hãm côngtennơ Sàn Quan sát bên trên và bên dưới xe. Ghế người lái, ghế ngồi Quan sát, kết hợp dùng tay lay lắc.